Nhạc Trịnh Công Sơn Và Tôi

 
 
 

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm tôi được mười bốn tuổi. Phải nói rằng tôi đã lớn lên theo cường độ gia tăng của cuộc chiến tranh tàn khốc và tâm hồn được nuôi dưỡng bằng nhạc Trịnh công Sơn. Tôi quả quyết như thế vì cho đến ngày hôm nay, sau ba mươi sáu năm nghe lại những bản nhạc cũ của ông tôi thấy lại tôi không những thịt xương hệ lụy mà dường như còn thấy cả kiếp đời mình. Tôi chấp nhận điều này như định mệnh vì khi tôi nói lên điều đó tôi thấy lại được cả một quãng đường đời của thế hệ thanh niên chúng tôi trong một giai đoạn thăng trầm lịch sử và trong đó không thể phủ nhận ý nghĩa lớn lao của một dòng nhạc được chính giai đoạn lịch sử ấy sản sinh ra.

Có những buổi sáng làm việc trong sở thấy buồn nghe nhạc. Tiếng hát Khánh Ly với Hạ Trắng, Tuổi Đá Buồn, rồi Lệ Thu với Biển Nhớ, Nhìn Những Mùa Thu Đi... Tôi cảm nhận tôi trong an ủi, nồng nàn của thời thanh niên và cũng nhận thức cái quí giá nhất trong nhạc Trịnh công Sơn là tình yêu vĩnh cữu tuyệt vời của con người. Nhưng dòng nhạc của ông không những chỉ là ngôn từ diễn đạt tình yêu mà còn phản ánh cả một giai đoạn lịch sử. Với Ca Khúc Trịnh Công Sơn, Kinh Việt Nam, Ca Khúc Da Vàng tuổi trẻ chúng tôi lúc bấy giờ nhận thức được thân phận của chính mình trong số phận đất nước. Giai đoạn này nhạc của ông là nổi khắc khoải cùng ước mơ của tuổi trẻ và hoàn toàn mang tính tả khuynh. Tính chất phản chiến ấy theo lẽ tự nhiên của tuổi trẻ trước thực trạng lịch sử, nhưng suốt một quảng đường dài hơn mười lăm năm chiến tranh khốc liệt của miền nam (1960-1975), nhạc cũng như chính bản thân ông vừa là chứng nhân vừa là nạn nhân của cuộc chiến tranh ấy. Đối với tôi dù ông thuần khiết giản dị thế nào chăng nữa ông cũng phải đối diện với cả một cuộc chiến tranh mà tham vọng con người tạo ra cho nên với tôi, ông viết nhạc là ông đã vẽ trên mặt bảng đen bất hạnh một khuôn mặt hạnh phúc (J. Prevert). Khuôn mặt hạnh phúc này là tình yêu bao giờ cũng tương phản với chiến tranh bởi chiến tranh và tình yêu là hai phạm trù trái ngược nhau.

Dòng nhạc Trịnh công Sơn là tổng hợp của hai chủ đề tình yêu và thân phận. Tuy nhiên hai chủ đề cũng chỉ là một vì tình yêu trong nhạc của ông phản ánh chính thân phận của tuổi trẻ trước cuộc chiến. (Những tình ca của ông sau năm 1975 không còn mang hơi hướm tính chất này.) Ông nói nhiều đến tình yêu là vì tình yêu ấy có thể bị chiến tranh cướp mất bất kỳ lúc nào và khát vọng hoà bình là:

Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay. Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi...

Hay:

Ta đã thấy gì trong đêm nay, cờ bay trăm ngọn cờ bay. Rừng núi hoang vu đến mọi miền, gió hoà bình đi về muôn hướng...

Nhạc là ước mơ của chính ông và ông không cần biết cờ bay này là cờ quốc gia hay cờ cộng sản cho dù vì màu cờ sắc áo người ta đã đổ xuống biết bao máu xương. Điểm này ngay từ những năm chiến tranh và đến ngày hôm nay một số người lên án ông là đã tiếp tay cho cộng sản. Những bài hát phơi trần bộ mặt cuộc chiến như Ngụ ngôn mùa đông, Hát trên những xác người và ước mơ hòa bình như Nối vòng tay lớn, Tôi ru em ngủ, Ca Dao Mẹ trong năm tháng cao điểm chiến tranh (1968-1975) là những dụ ngôn diễn tả xen kẻ giữa tình yêu và thân phận.

Như ông nói, ông chỉ là "tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo..." Linh cảm của Trịnh công Sơn ở đây là trực giác còn giấc mơ đời hư ảo lại chính là đời thường với các ước mơ bình dị. Trực giác và ước mơ cũng là khởi điểm của thiên tài và nhạc của ông viết lên trong một thời điểm nào đó nhưng bất tử với thời gian. Lời nhạc nhẹ nhàng tự nhiên trong sáng nhưng hàm chứa triết lý gợi đến phần sâu thẳm nhất của tâm hồn mỗi người. Vì là những khát khao của nội tâm nên nhạc Trịnh công Sơn đi thẳng tâm hồn người nghe dù có một số người bảo rằng tuy họ không hiểu một số lời nhạc nhưng vẫn yêu thích nhạc ông.

Mỗi bản nhạc của Trịnh công Sơn là những mãnh đời riêng nhưng rất chung, rất quen thuộc bởi chính nó là những mãnh đời của mỗi con người chúng ta một thời đầy ắp tình yêu với khao khát ước mơ trong muôn màu muôn vẻ của cuộc nhân sinh này. Ông đã vẽ trong nhạc khoảng không gian bao la bất tận bao hình tượng lãng mạn tuyệt vời vun đầy thi vị tình yêu. Nhạc ông dàn trãi mọi chiều kích tâm hồn con người. Nghe để cảm thấy mình cần nói, cần thổ lộ và điều thích thú nhất là ai cũng cãm thấy bóng mình lãng đãng trong nhạc của ông. Ông nói giùm cho con tim chúng ta những điều mà bằng ngôn ngữ bình thường dù muốn cũng khó có thể diễn tả trọn vẹn được. Thế nên một số người bảo rằng ông là thi sĩ viết lên lời nhạc theo tôi còn chưa đủ mà phải nói nhạc của ông có đầy đủ ba yếu tố: thi, ca và họa. Nhưng ông không phải là nhạc sĩ, họa sĩ và thi sĩ hay sao?

Có một số người cho rằng tình ca Trịnh công Sơn chỉ diễn tả những đau khổ, phụ bạc… nói chung là không hạnh phúc đối với tôi không phải như vậy. Nếu như một số bài viết nói về ông, ngay cả một thi sĩ nổi tiếng trong nước gọi nhạc ông là “điệu ru máu lệ” hay ca khúc đa phần nói về tình phụ lấy từ lời ca “…em đã phụ tôi” hay “…em phụ tôi từ thời bé dại…” vô tình hạ thấp giá trị nhạc ông. Thực ra viết những lời này để nói về nhạc Trịnh công Sơn tôi đã làm điều sai lầm vì nhạc ông không phải để nói bàn, mà là để nghe. Mọi diễn tả đều gượng ép vì tình ca Trịnh công Sơn dù diễn tà những cảm xúc rủi ro phiền muộn, đau khổ chia lìa nó chỉ làm nổi bật cái bền vững của tình yêu viên mãn phát sinh trong tương quan liên lĩ với trời đất để rồi cuối cùng nổi bật ý nghĩa mỏng manh vô thường của cuộc đời này. Nghe nhạc ông là đối diện với số phận và số phận này ai cũng như nhau vì tình yêu là niềm xúc cảm bắt đầu từ bản thân cô đơn hay thiếu thốn trong nỗ lực vượt khỏi cái phản diện ấy.

Trịnh công Sơn cho tôi bắt được ước mơ đời bằng nốt nhạc và lời nhạc ông sáng tác. Tôi yêu ánh nắng trong như thủy tinh, vàng như lụa trãi, chạy dài vô tận vì ánh nắng ấy là màu mắt của người con gái tôi yêu. Ánh nắng ấy chan hòa rực rỡ trong ngày hè có trời cao gió lộng hay vàng úa của một chiều thu bãng lãng biểu tượng qua rồi thời hạnh phúc nhưng không bao giờ tắt vì ánh nắng ấy mãi mãi thắp sáng đời mỗi con người chúng ta dù mỗi người chỉ có một thời để yêu thương gắn bó và một thời để tiếc nuối lãng quên.

Tình yêu trong nhạc Trịnh công Sơn mong manh vì những kết hợp và chia lìa trong dòng đời muôn mặt nhưng bao giờ cũng hiện hữu niềm tin tưởng tất yếu. Với tôi "Hạ Trắng, Biển Nhớ, Còn Tuổi Nào Cho Em, Tuổi Đá Buồn, Diễm Xưa, Nhìn Những Mùa Thu Đi" là những tình ca bất tử của ông vì trong những bản nhạc này tình yêu được diễn tả hầu như tuyệt đối trọn vẹn.

Sau năm 1975, nhạc ông tuy vẫn hay nhưng không còn nét tuyệt vời như trong thời gian chiến tranh. Lúc này nhạc phản ánh bản thân ông nhiều hơn và những bản nhạc như những dòng nhật ký một đời. Tình yêu tuy lúc nào cũng rực sáng trong nhạc của ông nhưng bên dưới cái vẻ nồng nàn muôn màu muôn vẻ ấy che dấu một nỗi cô đơn cùng cực mà tôi cho rằng đó là nổi cô đơn tất yếu của người nghệ sĩ. Nếu có một hạnh phúc nào đó cho bản thân ông thì chính nổi niềm tuyệt vọng là bề trái của một thứ hoa hạnh phúc nở trên cành cây đau khổ. Tôi không muốn nói đến bệnh tật hay tình cảm cá nhân mà tôi chỉ nói sức sáng tạo từ linh hồn cô đơn trong một thể xác đau đớn ấy (Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng) Ông đã để cho gia tài âm nhạc Việt Nam chúng ta một gia sản không phải là nhỏ với hơn năm trăm bản nhạc.

Viết cho ông những dòng này để cám ơn ông đã cho tôi sống trong tình yêu nồng nàn của tuổi trẻ và ngày hôm nay tóc tôi đã bạc, mắt không còn tinh anh, tôi vẫn thấy lòng mình đầy ắp nổi niềm của một thời hạnh phúc. Dù Trịnh Công Sơn đã mất, nhạc của ông vẫn còn mãi bởi nhạc ông chính là nhịp đập trái tim của mỗi người chúng ta trên hành tinh này.

 
 

Lê Lạc Giao

5-2001