Nụ Cười Buồn Mùa Hè

 
 
 

Khi cô gái bước lên đồi cao cuối làng, nắng sáng đã tràn xuống bờ triền dốc thung lũng phía đông. Vạt nắng vàng choàng lên đồng cỏ xanh nét óng ả tươi vui. Gió mát thổi dọc bờ sông chạy về phía Đông mất hút ở chân trời. Bên kia đồng cỏ, đường xe lửa chạy song song qua trạm ga dưới tàn cây bàng cổ thụ đứng cô đơn hơn một đời người bên sân ga. Cô gái nhìn dáng cây cao uốn cong về phía đường ray xe lửa như bóng một bà lão còng lưng đang cho gà ăn. Bà ngoại cô vẫn thường có dáng như thế mỗi buổi sáng sớm khi bước ra trước nhà với đám gà con chờ ăn chạy ríu rít đằng sau. Khi tiếng còi tàu hai lần trong ngày vọng đến đầu làng, bà ngoại nói với cô khi thấy cô đứng nhìn về hướng ga rằng, bà đến làng này lập nghiệp khi còn là một cô gái mười tám tuổi.

Đã hơn năm năm, cô chú ý đến cách nói và nét buồn bã trên khuôn mặt mỗi ngày thêm già nua của bà ngoại cô. Đằng xa kia, xóm dừa ngày ấy là một đầm nước hoang đầy sậy và cỏ lác. Lúc bấy giờ chỉ có muỗi, cá và cá sấu. Khi con người đến, cá sấu ra đi vì thức ăn của nó dần dần bị con người vét sạch, rồi khi không còn gì để ăn, người ta bắt đầu săn bắt cá sấu. Cá sấu dần dần mất hẳn. Cái đầm lầy ấy trở thành một làng dừa, và bà từ một cô gái nghèo khổ trở thành chủ một quán nước đầu làng. Lúc bấy giờ triền dốc ven đầm lầy nối liền với sườn núi bắt đầu đón con đường sắt từ thành phố biển phía Đông, chạy xuyên qua chân núi về phương Nam.

Con đường sắt chạy về đâu nhỉ? Miện vẫn thường tự hỏi từ ngày cô năm tuổi, được cha cõng trên lưng vượt khỏi bờ triền dốc, đi về phía các hàng quán bán thức ăn xung quanh ga. Miện nhớ cha cô cao lớn, đứng sừng sững trong gió chiều, mỗi khi bóng nắng rời làng theo hướng xe lửa ra đi. Cha cô cứ nhìn theo ngọn khói xám cuồn cuộn sau xe, trước khi đầu xe lửa biến mất vào trong khe núi. Ông về nhà mỗi cuối tuần rồi sau đó lại ra đi. Ngày chủ nhật, trong khi cha cô cõng cô đi lên con dốc phía Đông, bà ngoại cô phải ra bờ sông giặt quần áo. Mẹ Miện mất sau khi sanh cô. Sinh khó lúc bấy giờ là rủi ro, vì làng cô không có bác sĩ để cứu giúp trường hợp hậu sản nguy hiểm ấy.

Hàng ngày xe lửa đến làng với làn khói xám đen và tàn lửa bắn tung ở đầu máy những khi gió cuộn mạnh. Trên lưng cha, cô bé bốn tuổi nhìn mây trên trời cao và gió mùa xuân mơn man trong nắng sáng. Mây và gió như giúp cô lớn nhanh ước mơ của mình. Cô tưởng tượng đến ngày được ngồi trong toa xe lửa chạy qua những nơi mà cô thường thấy trong các giấc mơ của mình. Con chó Bi già chạy lon ton phía sau cô, thỉnh thoảng sủa trên chiếc bóng nhảy múa của nó. Thăng đặt con gái xuống đất khi bước lên bậc tam cấp cuối cùng của sân ga. Anh nắm tay con, chậm rãi đi về phía dãy hàng quán cuối sân ga và con Bi lủi thủi phía sau. Những người đưa đón khách đã tản đi khi xe lửa rời ga. Xa xa vài kẻ quang gánh theo con dốc trở về làng sau triền đồi phía Bắc. Mua cho con một túi kẹo và một chiếc bánh cam tẩm đường, Thăng nhìn con đường sắt mỗi tuần mang anh đi và đưa anh về lòng trĩu nặng muộn phiền.

Anh sống trong hai thế giới khác biệt. Thành phố đằng xa kia là một phần đời của anh, và nơi này là phần đời còn lại. Ở đây, anh có mái nhà, nấm mộ vợ và hai thân nhân ruột thịt. Con gái anh đang chạy tung tăng với con chó Bi đằng sau là một niềm vui cuộc đời. Anh nghĩ như thế, vì cái thị trấn bên kia rặng núi cho anh tiền bạc, nhưng hình như thiếu một chút tình. Anh không xua đuổi được cái âm thanh quen thuộc buổi sáng với tiếng réo gọi của gánh hàng rong, hồi còi hụ của nhà máy điện xen lẫn tiếng gào thét của các chuyến xe lửa mỗi khi vào thành phố. Nơi đấy là một không gian chật hẹp ngột ngạt, cuồng nhiệt tương phản với bầu trời trong xanh bao la, yên tĩnh cuối tuần cùng bao nhiêu êm đềm kỷ niệm ở đây.

Thăng ngồi xuống gốc cây sung già cạnh bờ suối. Con gái anh đang bẻ từng mảnh vụn bánh cam cho con Bi ăn. Nước chảy nhẹ róc rách gần bờ, bầu trời cao với nắng ươm vàng một khoảng triền thung lũng. An ngồi chỗ ấy, cách anh hơn sải tay trên phiến đá nâu đang giặt quần áo.

Hình ảnh mười hai năm trước. An mười chín tuổi, Thăng hai mươi ba. An cười trong nắng sáng như chim oanh gặp bạn. Tiếng cười của nàng trong trẻo vang đi rất xa, khiến vạt nắng trên tàn khuynh diệp vỡ vụn, biến thành vạn mảnh thủy tinh li ti vàng óng lung linh rớt chầm chậm xuống bờ mi mắt đang ngủ của Thăng. Tiếng cười đánh thức anh ra khỏi một giấc mơ ngày còn bé. Anh được cha chở trên chiếc mô tô chạy về phía xóm đạo dưới chân núi. Xe chạy qua những đồng lúa vàng mút mắt. Gió nồm mát rượi mơn man trên mặt Thăng, gợn một niềm vui lâng lâng nhè nhẹ, hằn trong lòng cậu bé cảm giác vĩnh viễn thứ hạnh phúc cô tịch của thời thơ ấu. Mở mắt, anh như còn nghe ngân trong nắng sáng âm thanh vọng lại từ cơn mơ, hòa lẫn tiếng cười của An dưới tàn cây.

Thăng ngồi dậy nhìn ra bờ sông thấy An đã giặt xong quần áo, đang đùa nghịch và cười nói với những cô gái trong làng. Anh nghe trong gió thoảng mùi hoa bưởi và chợt nhớ đến những ngày còn đi học ở phía Bắc. Nơi ấy, có những cô gái nói tiếng địa phương như chim hót, mái tóc dài e ấp và những con đường trồng nhiều phượng dọc hai bên lề. Buổi sáng dậy sớm từ căn phòng trọ cạnh bờ sông, Thăng đã nghe tiếng cười nói ríu rít của những cô gái đi bộ hoặc đạp xe đến trường. Tiếng bánh xe nghiến trên mặt đường, chen tiếng guốc reo vui rộn rã. Dù nhắm mắt, anh vẫn thấy rõ ràng màu sắc tươi sáng của những ngày tháng học đại học.

*
Thăng chồm dậy nhìn qua cửa sổ. Gió buổi sáng mát rượi đẫm mùi hoa bưởi thanh trà đang ra hoa dọc bờ sông cuốn lên mặt đường. Bao giờ cũng thế, bức tranh ngày hè thắm đỏ màu phượng vĩ, và anh đã vẽ không biết bao nhiêu bức tranh, cốt ghi lại cảm giác ấy, nhưng vẫn không hài lòng.

Nhìn đống tranh chồng chất dưới mái hiên, Trường, người bạn thân cùng lớp học mỹ thuật hỏi:

“Mày vẽ rất đạt, nhưng vẫn cố vẽ thêm để làm gì? Mày muốn cái gì trong tranh? Mày không cảm thấy nhàm chán khi cứ miêu tả mãi một khung cảnh?”

Lúc ấy, Thăng trả lời:

“Tao không vẽ cảnh, tao vẽ âm thanh, và cũng bởi chưa nghe được những nốt nhạc trong tác phẩm của mình.”

“Cũng là thứ ấn tượng. Nắng sáng khác nắng chiều, và nhạc ban mai không thể nào nhầm lẫn với dạ khúc được!”

Trường vừa nói vừa gật gù đắc chí. Thăng nghĩ, Trường hiểu lầm mình, nhưng anh không nói gì. Với Thăng nỗi buồn hay niềm vui đúng là cảm xúc, nhưng cảm xúc này có đủ âm thanh và màu sắc. Nhiều khi cố gắng diễn tả, người họa sĩ chỉ vẽ lên màu sắc mà không hề miêu tả được âm thanh. Từ lâu, Thăng cố gắng diễn tả cảm xúc của mình trong tranh, nhưng không thỏa mãn. Trong khi Hạnh là nhạc sĩ, lại làm được điều đó. Thăng phục Hạnh và xem bạn như một thiên tài. Nhạc của Hạnh đi đủ ba chiều kích, dù chỉ vài nốt nhạc hết sức giản dị. Nhiều lúc nghe nhạc Hạnh, Thăng ao ước nhặt được mảng âm thanh kỳ diệu ấy bỏ vào tranh của mình.

Mùa hè thành phố cổ kính này đỏ rực màu phượng vĩ. Những cô gái áo dài trắng đi guốc hay đạp xe chầm chậm, ngẩng cao đầu như cười với trời xanh mây trắng là thứ cảm hứng dường như bất tận cho những nghệ sĩ trẻ trong thành phố. Đến năm thứ ba, Thăng không còn ưa chuộng khung cảnh ấy nữa. Bấy giờ, anh chỉ sử dụng màu xanh dương sẫm đen chen chút vàng nhạt. Tranh tối hơn nhưng có chiều sâu. Màu vàng cho chút hi vọng le lói, khiến Thăng năm hai mươi mốt tuổi thường lang thang trên bờ sông quê nhà, nhìn chăm chú chân trời xa, tìm một hình ảnh nào đó không hề có hình thù nhất định, cùng tâm hồn trĩu nặng nỗi cô đơn ngút ngàn.

Buổi chiều Thăng mang giá vẽ ra bờ sông. Anh muốn ghi lại ánh nắng chiều quê nhà trước khi trở lại trường. Trầm ngâm rất lâu trước vạt nắng trên đồi cao, con đường nhỏ từ làng ra bến sông vắng ngắt. Một chút tối đằng xa bên kia dãy núi lớn dần, chầm chậm di chuyển về hướng ga xe lửa. Thăng pha màu và vẽ rất nhanh. Cũng bấy nhiêu màu sắc, dù trời còn xanh, anh vẫn cho chút màu tối vào để tương phản vạt nắng còn lại trên con đường về làng.

Lúc bấy giờ trong cung bậc trầm lắng buổi chiều mùa hè oi ả, gia tăng nét uể oải của núi đồi trước mặt thì An xuất hiện. Cái chấm trắng mỏng manh hiện dần trên đường như một nốt nhạc khuấy động mảng màu sắc nặng nề ủ rũ. An áo trắng cổ tròn lá sen, quần đen, mang trong tay chiếc giỏ mây vàng nhạt đựng quần áo, đi rất nhanh và mỉm cười với Thăng. Anh chợt nhận ra nụ cười có đủ âm thanh màu sắc mà anh đã từ lâu mơ ước. Thăng vội vàng vẽ, và cô gái đi qua trước mặt chỉ còn lưu lại trong trí nhớ một vòm ánh sáng huyền ảo.

Vẽ xong, Thăng chăm chú nhìn bức tranh như nhớ lại một kỷ niệm xa xưa nào đó từng thấp thoáng trong giấc mơ của mình. Kỷ niệm ấy nhạt nhòa, nhưng rõ ràng là thứ hạnh phúc êm đềm như cơn nồm mùa hạ thổi qua mảnh sân nhỏ còn nồng hơi nắng trưa. Anh nhắm mắt và mở mắt với cảm giác lạ.

Cô gái đứng bên cạnh anh từ bao giờ, đang ngắm bức tranh và mỉm cười. Cô không nói tiếng nào rồi lặng lẽ bước đi một khoảng khá xa mới quay lại nhìn lần nữa như gửi Thăng lời từ giã. An đến với anh như chút hi vọng mà anh thường nhóm lên trong tranh của mình. Dù mỏng manh nhưng rõ ràng đầy sức thuyết phục.

Ngày hôm sau Thăng lên đường trở về thành phố phía Bắc, hành trang không thêm gì ngoài nụ cười hiền hòa của An chiều hôm trước bên bờ sông.

Bức tranh chưa khô. Thăng vẫn để trên hàng hiên. Tuần lễ sau, cha Thăng mang nó vào phòng khách. Thăng viết thư nhắc cha bảo quản tấm tranh cho anh. Mười ngày về nhà nghỉ Tết, Thăng mỗi ngày đều chăm chú nhìn ngắm bức tranh ấy trước khi lang thang ra bến sông. Không phải Thăng tìm sự khiếm khuyết trong bức tranh, mà anh đang khám phá niềm vui mong manh ở tận đáy lòng. Ngày thứ ba, Thăng gặp lại An. An hỏi anh về bức tranh mùa hè, Thăng nói:

“Cô An còn nhớ đến nó hay sao?”

An không trả lời mà hỏi Thăng:

“Sao anh biết tên em?”

“Ở đây mà không biết tên cô mới là lạ. Thế cô có biết tôi hay không?”

An cười lặp lại:

“Ở đây mà không biết anh mới lạ. Thực ra em biết anh nhưng không rõ tên. Anh học trường tỉnh, thường đi ngang nhà em mỗi sáng.”

Thăng nhớ bóng áo dài trắng thấp thoáng trong mảnh sân con um tùm cây kiểng đầu làng, những khi ghé ngang quán nước của mẹ An, mua bánh ngọt trước khi lên xe đò xuống trường. Anh nhìn sâu vào đôi mắt to, hàng mi cong của An, lòng chợt bồi hồi xúc động. An hỏi:

“Anh là họa sĩ phải không?”

“Bây giờ thì chưa nhưng năm tới sau khi ra trường, tôi sẽ là họa sĩ.”

“Sao hôm nay anh không vẽ nữa?”

“Tôi đi tìm người mẫu.”

“Ai là người mẫu của anh?”

Thăng đưa tay chỉ cô. An cười bẽn lẽn. Nụ cười có chút ngập ngừng nhưng tỏa ra như nắng sáng. Thăng theo An xuống bờ sông. Trong khi An giặt quần áo, từ xa Thăng ngắm nàng trong bầu trời nhiều mây tháng chạp. Mây xám làm bầu trời thấp xuống. Tấm áo trắng của An in trên mặt nước xanh tối phản ánh bầu trời đầy mây trên cao, và phía sau màu xanh sẫm núi đồi, tạo nên những khối màu nặng nề chồng tựa lên nhau. Nhưng tất cả khối u buồn ấy dường như nhẹ nhõm khi An cất tiếng cười với anh. An đứng nhìn về phía Thăng tóc bay trong gió sáng, mắt long lanh và tiếng cười của nàng như xua đi bao ưu phiền trĩu nặng trong hồn anh.

Cử chỉ và tình cảm của An theo Thăng suốt mùa xuân năm ấy, và anh đã vẽ tấm tranh thứ hai từ khi quen nàng. Thăng vẽ An theo trí nhớ, nhưng bố cục không khác một buổi sáng cuối đông có thật diễn ra trước mắt mình. An ngồi trên bờ đá ven sông, một nửa mặt nghiêng về phía Thăng như che giấu một nụ cười. Đằng sau An là mùa đông, nhưng phía trước là mùa xuân rực rỡ với nụ cười như đâu đây trong hồn, âm vang bao nốt nhạc khiến một chuỗi hòa âm khởi sắc. Anh bằng lòng với bức tranh thứ hai, trịnh trọng treo nó trong phòng khách ngay cửa ra vào. Mỗi lần ra khỏi phòng, Thăng dường như thấy An vô hình đang cười với mình.

Tình yêu Thăng vun trồng theo từng tác phẩm nghệ thuật mà anh dành cho An như miêu tả trình tự một mối tình. Nó lớn dần theo ngày tháng, và từng bước đẩy lùi những hệ lụy truyền thống trong hôn nhân. Thăng bất kể những khuyên bảo của cha về tương lai trong cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối. Gia đình An nghèo, đơn chiếc. Cha An mất sớm khi nàng lên sáu tuổi. Mẹ An tảo tần với quán nước đầu làng. An vừa học vừa giúp mẹ. Hôm nói chuyện với nàng ở bến sông lần thứ hai, Thăng nói:

“Hôm nào anh ghé nhà em chơi nhé?”

“Ghé thì ghé, nhưng đừng có chê nhà em nghèo!”

An nói như biểu lộ mặc cảm. Thăng nhìn đôi mắt to trong vắt như một tấm gương của An, dường như phản chiếu những ghềnh thác cuộc sống rồi nhẹ nhàng nói với nàng:

“Chúng ta ai cũng nghèo cả, anh không những nghèo mà còn cô đơn nữa. Em không thấy anh thường lang thang ở bờ sông với nỗi buồn của mình hay sao?”

“Thực thế ư? Em lại nghĩ anh vừa sung sướng, vừa nhàn nhã.”

Thăng lắc đầu:

“Bề ngoài nào diễn tả được phần bên trong. Anh cô đơn như cái cây kia!”

Thăng chỉ cây bàng cổ thụ đằng xa đứng cạnh sân ga. An cười:

“Anh có ý nghĩ giống em. Em vẫn thường nghĩ mình như cây bàng ấy.”

An đồng ý với Thăng khi anh nói lên cảm tưởng của mình. Hôm ấy, trước khi chia tay Thăng nói:

“Cây bàng ấy không cô đơn nữa vì có chúng ta làm bạn. Nó sẽ mãi mãi là người bạn của chúng ta.”

An lắc đầu quả quyết:

“Em nghĩ cây bàng không cô đơn mà chỉ có chúng ta đơn chiếc trong cuộc đời này! Có nó làm bạn, may ra chúng ta có thể mạnh dạn bước đi.”

Mùa hè năm sau, hai người thường ra bến sông. An học xong trung học, nhưng không học tiếp đại học vì nhà nghèo và đơn chiếc. Cô không thể để mẹ sống một mình trong khi mình đi học xa. Mẹ cô sau khi thuyết phục cô tiếp tục học không được bèn đổ lỗi cho Thăng. Bà nghĩ, An không muốn xa Thăng, nhưng viễn ảnh mối tình hai người không sáng sủa chút nào. Bà cho rằng, cha Thăng không thể nào cưới một cô gái nghèo như An cho đứa con trai độc nhất được. An không giải thích, nhưng nàng hiểu mình muốn gì, và cuộc đời của mình sẽ ra sao khi ở mãi nơi này. Lúc ấy, An nhìn cây bàng cổ thụ đằng xa kia, tự an ủi mình.

Thăng cũng không khác An. Anh đối phó thường xuyên với cha những khi ông nhắc đến việc anh nên cắt đứt quan hệ với An. Ông không muốn Thăng lấy An làm vợ, khi anh tự động đề nghị cưới An sau khi mình tốt nghiệp cao đẳng mỹ thuật. Những khi căng thẳng với cha, Thăng thường tự nhủ, nếu mẹ còn sống thì bà chắc chắn chiều ý anh. Mẹ anh mất khi anh mười bốn tuổi, và cái chết của mẹ đã góp phần nuôi lớn nỗi cô đơn trong lòng anh. Cha anh đi làm xa, dù tiền bạc ông mang về thật nhiều, cũng không làm giảm đi chút nào những trống vắng trong tâm hồn Thăng.

Trong lúc tìm việc làm sau khi tốt nghiệp. Thăng thường ra bến sông, tìm một chỗ yên tĩnh thích hợp để vẽ. An có khi ngồi bên nhìn anh vẽ, có lúc nàng làm mẫu nhưng thật nhanh, Thăng nói với An: “Em là người mẫu trong mộng của anh.”

“Thế nào là người mẫu trong mộng?”

“Có nghĩa anh nhắm mắt cũng có thể vẽ được em. Anh không cần em ngồi nghiêm chỉnh như các người mẫu trong xưởng vẽ hay lớp học.”

An hạnh phúc khi nghe Thăng nói, chứng minh nàng bao giờ cũng hiện diện trong lòng anh. Thăng cẩn thận khi vẽ An, vì anh luôn tâm niệm mình phải mang được âm thanh vào hội họa. Điều này, Thăng tự khám phá ra. Cảm hứng đến với người nghệ sĩ, nhưng không phải ai cũng diễn tả được trọn vẹn. Một cảm xúc khi miêu tả bằng màu sắc, bao giờ cũng có một nếp gấp mà người nghệ sĩ phải vượt qua để hoàn tất tác phẩm. Đấy là âm thanh trong hội họa mà anh hằng mơ ước. Từng đêm Thăng nhìn sao trời, như thấy khoảng cách nhất định giữa cảm hứng tâm hồn và âm thanh màu sắc mà anh cố vượt qua. Anh đã có bao giấc mơ, bước vào tác phẩm của mình nghe cảm xúc trên từng phân da thịt.

Thăng cưới An một năm sau khi cha anh mất vì một tai nạn lao động lúc nghiệm thu công trình. Sau đó, anh bán ngôi nhà của mình rồi về nhà An ở. Anh vẽ tranh liên tục trong khi An phụ mẹ bán hàng.

Từ cửa sổ nhà, Thăng nhìn thấy chuyến xe lửa đi và về, ghé ga hai lần mỗi ngày bằng âm thanh và màu khói xám vương vãi giữa hai khe núi. Buổi chiều về nhà, bao giờ An cũng đến xem tranh của Thăng trước khi làm những việc khác. Nàng yên lặng nhìn những tảng màu xanh xám chồng chất trong tranh như thấy được cõi lòng nặng nề của chồng. An bảo:

“Anh nên nghỉ vẽ một thời gian. Tâm hồn phải thanh thản nhẹ nhàng mới vẽ tiếp được.”

“Thế anh làm gì với tám giờ mỗi ngày?”

“Anh nên ra bờ sông, đến sân ga vui với cây bàng già nua của chúng ta. Có thể nó sẽ bảo anh phải làm gì.”

Đứng sau lưng Thăng, An vòng tay ôm cổ anh tha thiết nói. Thăng nắm tay nàng, nhớ lại những ngày hè năm trước mà tưởng như lâu lắm rồi. Anh biết An là phần đời của mình, là ốc đảo hạnh phúc trên trần đời hoang vu sa mạc này. Anh đã từng ngày, từng tháng trưởng thành cùng lúc với nỗi niềm cô đơn lớn dần trong tâm hồn mình. Từ khi mẹ mất, Thăng không còn nơi bám víu để nuôi nấng một niềm tin, dù chung quanh không thiếu những chất liệu có thể nuôi dưỡng nó. Trong khi đó, cha anh cũng chỉ là một hành tinh xa lạ, cùng anh chạy trên một quĩ đạo nhưng không hề gặp nhau. Thăng không tìm được người bạn nào có thể chia sẻ nỗi niềm bất hạnh riêng tư ấy. Anh tìm đến sách vở cùng cái đẹp của đất trời, như tìm tình yêu và niềm an ủi cho khát vọng của mình, mãi đến khi gặp An.

Mùa hè quê nhà lúc bấy giờ, với ánh nắng oi nồng tháng năm trải dài theo bờ sông, mang theo cơn gió nồm từ biển, xua giạt cái nóng đổ xuống từ triền đồi phía Nam đến tận chân núi, thêm vào tiếng cười, bước đi của An, như gia thêm cung bậc cho một hòa âm điền dã. Tình yêu của nàng ngày ấy thực sự cho Thăng cảm hứng sáng tác.

Ngày hôm nay, An biết cảm hứng nơi Thăng không còn nữa. Tuy không biết lý do, nhưng nàng hiểu không có gì tệ hại hơn đối với người nghệ sĩ, một khi không có chất liệu tâm hồn để sáng tác. Thêm nữa, ước mơ của Thăng vượt xa bến bờ nghệ thuật. An đã cho anh tình yêu, cảm hứng và niềm hạnh phúc trong mùa hè quê nhà. Thăng nhớ đến nụ cười ngày đầu tiên gặp nàng. Nụ cười mùa hè trong cái hòa âm trời đất bất tận của quê nhà. Đó là một giấc mơ đã qua. Có thể bàng hoàng khi nhớ lại, nhưng cảm giác mất mát thật rõ ràng. Những cảm xúc như trôi khỏi năm đầu ngón tay anh.

Buổi sáng, Thăng vứt cọ chạy khỏi nhà. Anh đến bến sông ngồi trên phiến đá dưới tàn cây sung mà An từng ngồi giặt quần áo, tìm lại âm thanh và vùng hào quang huyền ảo một thời đã mất. Thăng thất vọng khi thấy mình thừa thãi trong khung cảnh tĩnh lặng này. Con chó Bi ngồi bên cạnh, thỉnh thoảng cào cào chân lên phiến đá. Thăng nhìn nó chăm chú. Con chó Bi nhỏ hơn An mười tuổi. Nó là người bạn thân duy nhất của nàng suốt quãng đời thơ ấu. An nói rằng, ngoài mẹ, chỉ có con Bi là có thể chia sẻ nỗi buồn trong căn nhà trống vắng với nàng. Bây giờ có thêm anh, có lẽ nó vui lắm. Thăng cúi xuống vuốt lưng con Bi. Nó quay đầu nhìn anh rồi kêu ăng ẳng, hai chân tiếp tục cào xuống mặt đá. Anh nghe đằng xa tiếng còi hụ của xe lửa. Chuyến xe về Nam sắp ghé ga. Thăng đứng dậy, đi về hướng sân ga trong khi bóng dáng quen thuộc của chiếc xe lửa từ từ hiện lên ở phía chân trời. Con Bi lẽo đẽo chạy theo sau.

Thăng ngồi xuống gốc bàng, nhặt một quả bàng khô dùng hòn đá đập vỡ lấy nhân hạt. Nhân hạt bàng màu trắng, anh cho vào miệng nhai, nghe thấm chất béo qua đầu lưỡi, kẽ răng như ngày còn học trung học. Anh đập quả thứ hai cho con Bi, nó nằm xuống bên cạnh anh và nhai rau ráu. Trên sân ga, kẻ đến người đi ầm ĩ.

Hai tháng trước, Hạnh từ miền Trung vào thăm vợ chồng anh cũng đến ga này. Anh đón Hạnh về nhà và nghe được những bản nhạc mới của bạn sáng tác. Trước kia, chính nhạc của Hạnh từng là cảm hứng để Thăng vẽ tranh suốt bốn năm trọ học. Về lại quê nhà Thăng nghe thêm nhạc của Hạnh qua đài phát thanh. Hạnh lúc này nổi tiếng với những bài tình ca. Nghe ca khúc của Hạnh, Thăng càng thấy sự bất lực của mình trong sáng tác. Nói chuyện ấy với An, nàng bảo: “Anh đừng mặc cảm vì suy nghĩ chủ quan. Âm nhạc và hội họa tuy có những tương đồng nhưng không phải không có dị biệt. Anh tìm âm thanh trong màu sắc, cũng như anh Hạnh biến màu sắc thành âm thanh. Có ngày anh sẽ bằng lòng với ước muốn của mình, vì tranh của anh không phải đã từng được giải thưởng hội họa toàn quốc hay sao! Anh hãy lựa thêm mười tấm tranh để dự cuộc triển lãm mùa thu tới. Dù anh không thỏa mãn việc sáng tác của mình, nhưng hãy cho những người yêu thích nghệ thuật được xem tranh của anh để họ đánh giá.”

Thăng không ngờ An suy nghĩ sâu xa và chu đáo như thế. Tác phẩm nghệ thuật là một hòa âm. Không phải chỉ bản thân tác giả thỏa mãn là đủ, mà mọi người sẽ thấy hạnh phúc khi thưởng thức nó. Giá trị chân chính của một tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng hai chiều. Đừng suy nghĩ nghệ thuật là mãi mãi, còn con người thì giới hạn mà tự giam hãm khả năng của mình. Thuận theo tự nhiên như cây bàng này, an ổn, tĩnh lặng và lắng nghe tiếng nói của thế nhân trên sân ga, nhìn ngắm dòng sông xuôi ra biển, như một sắp đặt hài hòa trời đất - con người. Buồn phiền sẽ tan biến như mây khói và chỉ còn sự êm đềm của một hòa âm bất tận. Từ đáy lòng, Thăng thấy gợn một niềm vui nhẹ nhàng và tỏa rộng như quả sung vừa rơi xuống mặt nước, tạo ra những gợn sóng nhỏ loang to dần, to dần rồi mênh mông, mênh mông tận chân trời xa tít tắp đằng kia.

Khi Thăng đem những tấm tranh của mình vào Nam, tham dự cuộc triển lãm mùa thu hằng năm của hiệp hội những người họa sĩ trẻ, An ở nhà tìm tất cả những bức tranh còn lại của chồng sắp xếp lại. Cô đem ba bức tranh kỷ niệm mối tình của hai người treo lên phòng khách. Vẫn là An, với nụ cười trong mùa hè quê nhà. Sau khi treo xong, An ngồi trên sàn nhà nhắm mắt lại mỉm cười khi nhớ đến ngày nào Thăng nói, “Em là người mẫu trong mộng của anh.” Kỷ niệm cũ lấp lánh hạnh phúc khi nhớ lại.

Trước khi đi, Thăng biết tin vợ có thai nên anh vừa vui vừa lo lắng. An bảo:

“Anh yên tâm với công việc. Đã có mẹ lo. Em mong anh thành công trở về.”

Tranh của Thăng bán hết trong kỳ triển lãm. Anh mua cho An chiếc áo trắng cổ lá sen như chiếc áo ngày xưa An mặc, lần đầu hai người gặp nhau ở bến sông. Lúc ấy, Thăng bắt đầu suy nghĩ về đứa con sắp có của hai người và tương lai của chính anh, một khi trở về nhà. Không thể sống và sáng tác với lối suy nghĩ trước kia được. Thăng tự đề ra mục tiêu và quyết thực hiện được. Anh có gia đình và phải có trách nhiệm với nó.

Hai tháng sau, Thăng mướn người xây lại nhà. Căn nhà mới rộng hơn với phòng vẽ tranh và phòng cho con trong tương lai. Từ nơi làm việc, Thăng vẫn thấy cây bàng cổ thụ và sân ga xa xa. Tháng cuối sắp sinh con, An ở nhà xem chồng vẽ tranh. Thăng chậm rãi làm việc. Anh không cảm thấy bức xúc như trước kia trong sáng tác. Thăng đọc sách thêm những khi rảnh rỗi và gửi đơn xin việc ở những công ty đồ họa. Anh vừa vẽ tranh, vừa muốn có công việc thường trực. Hai việc đều cần thiết như nhau và có thể bảo đảm cho tương lai gia đình.

An cùng chồng chiều chiều ra hàng hiên nhìn về phía sân ga. Thói quen hai người xuất phát từ những thôi thúc tâm hồn giống nhau. Thăng và An cùng cảm nhận một khung cảnh, chia sẻ hoặc hòa nhập với nhau trong cảm xúc về nhận thức. Khi Thăng nói điều đó, An bảo còn gì hạnh phúc hơn khi vợ chồng chia sẻ được với nhau cả thể xác lẫn tâm hồn.

An sinh con gái và bị băng huyết hậu sản hai ngày sau. Những cô đỡ đẻ trong làng tận sức cứu giúp nhưng bó tay. Thăng mướn xe đưa An xuống bệnh viện tỉnh. Bác sĩ bảo rằng, nếu ngay ngày đầu tiên nhập viện thì có thể cứu được An. Thăng tuyệt vọng, đau đớn nghe câu nói cuối cùng của nàng, “Em hoàn toàn hạnh phúc khi sống với anh và không ân hận điều gì, chỉ mong sao anh lo cho con chúng ta.”

Những ngày tháng năm đen tối sau cái chết của vợ, mỗi chiều, Thăng ra mộ An ngồi cùng con chó Bi nằm ủ rũ dưới chân, như chia sẻ nỗi đau buồn với anh. Gió nồm mùa hè không làm dịu bớt chút nào nỗi đau khổ trong lòng Thăng. Anh đi theo lối mòn ngày cũ, nhận ra hạnh phúc và đau khổ chỉ cách nhau một lằn ranh mỏng manh. Con người đầu tư càng nhiều tình cảm thì kết quả cảm xúc càng gia bội. Thăng đến sân ga ngồi xuống gốc bàng hàng giờ, đếm những quả bàng khô, tưởng chừng như lòng mình đang kể lể với cây cổ thụ.

Mẹ của An mướn thêm người giúp việc buôn bán, để bà có thì giờ chăm sóc cháu ngoại. Con bé Miện lớn dần với bà ngoại và cha. Khi Miện lên ba, Thăng kiếm được việc làm ở thị trấn bên kia dãy núi phía Nam. Sáng thứ Hai, anh ra ga xe lửa để đi đến nơi làm việc, cuối tuần về nhà rồi đầu tuần lại ra đi.

Miện lớn lên ngày càng giống mẹ, vẫn con Bi làm bạn dù nó già nua và thêm tật lãng tai. Tuy nhiên, trong nhà nó luôn chạy theo Miện, khi con bé ra vườn với bà ngoại, hoặc theo Thăng, khi anh cõng nó trên lưng đi về bãi sông hoặc ga xe lửa. Thăng nhớ An và thường đến ngồi dưới gốc bàng, cảm thấy lòng an ủi với cảm giác An đang mỉm cười với anh và con.

Lên năm tuổi Miện đến trường. Sau khi tan học về nhà, Miện hay đến phòng vẽ tranh, mang những tấm tranh của cha ra ngắm. Trong đống tranh chồng chất nhiều đề tài ấy, Miện lấy đúng ba tấm tranh trước kia An treo ở phòng khách ra ngắm nghía say mê. Ba bức tranh này, Thăng đã tháo xuống cất đi sau cái chết của vợ. Bà ngoại Miện kể cho Thăng nghe. Anh thấy lòng chùng xuống và hiểu Miện cảm nhận được người trong tranh là mẹ của mình. Anh ôm con và ru con bằng một bài hát của Hạnh mà trước kia An rất thích. Miện bao giờ cũng ngủ dễ dàng khi nghe cha hát ru. Thăng trong lúc ru con, thường có cảm giác trở về một giấc mơ, dù hiện thực bao giờ cũng bảo anh rằng đấy là ảo ảnh.

Vào cuối hè năm Miện bảy tuổi, cơn nóng cuối mùa bắt đầu từ sườn núi phía Nam tỏa xuống làm cả một vạt không gian, từ chân núi đến sân ga hết sức oi bức. Con Bi lừ đừ uể oải nằm trước cửa ra vào. Miện gọi, nó làm thinh. Miện nhớ nó điếc, nên đến trước mặt ra dấu. Nó không thèm đứng dậy như thường ngày. Buổi trưa thấy con Bi lết ra sân, Miện rón rén theo sau thấy nó cào đất để ăn. Buổi chiều, Miện kể cho bà ngoại nghe. Bà nói:

“Con Bi sắp chết già. Chó mà ăn đất là sắp chết. Tội nghiệp! Nó đã sống với chúng ta hai mươi năm!”

Hai ngày tiếp theo, con Bi không ăn uống gì, dù Miện đặt cơm nước trước mõm nó. Con Bi chỉ lết ra phía trước sân cạp đất, rồi sau đó lết trở về chỗ nằm. Cuối tuần Thăng về nhà, nghe con kể, anh đến chỗ nằm của nó vuốt đầu, cầm hai chân trước nâng lên. Con Bi lờ đờ nhìn lại. Thăng hiểu nó sắp chết, anh an ủi con:

“Cha sẽ mua cho con một con Bi khác để con nuôi.”

Miện lắc đầu rưng rưng nước mắt nói:

“Con không cần con chó Bi mới, con Bi già này là bạn của con mà. Cha hãy cứu nó đi!”

Miện nói như An từng nói với anh ngày xưa. Anh hiểu, trong nhà này ai cũng cô đơn. Con Bi là bạn của hai thế hệ con người, nếu không kể mẹ của An. Con chó Bi già này không khác người vú trung thành của gia đình. Thế nên khi phải chia lìa nhau, dù nó chỉ là con vật là điều ai cũng đau lòng. Hôm nay nó sắp chết, và cái chết lần nữa minh chứng là điều không thể tránh khỏi với bất cứ sinh vật nào. Tình yêu thương, dù có nồng nàn bao la đến đâu, cũng không làm cho sinh vật thoát khỏi cái chết. Không nói tiếng nào trước sự hấp hối của con Bi, bà ngoại Miện đi lấy một sợi dây cói, xâu chục đồng tiền kẽm, làm một cái túi vải nhỏ, đựng nắm gạo trộn muối, khâu vào sợi dây và buộc vào cổ con Bi rồi nói với Miện: “Con đừng buồn, con Bi không thiếu gì đâu vì nó có tiền có cơm để ăn tiêu rồi.”

Buổi trưa chủ nhật, con Bi chết. Miện khóc khi thấy cha cuộn xác con chó bằng chiếc chiếu mới, ôm trong tay, mang ra nghĩa trang. Thăng chôn con Bi bên cạnh mộ An. Đắp nấm mộ nho nhỏ cho con Bi xong, anh quay sang mộ vợ thì thầm: “Con Bi hôm nay gặp em, nó sẽ nói với em rằng, anh, con và mẹ bao giờ cũng thương nhớ em.”

Những ngày cuối tuần tiếp theo, Thăng về nhà mang quà bánh cho con thật nhiều, nhưng không làm khuây khỏa chút nào nỗi buồn của con gái. Anh lang thang ra bờ sông, rồi sang bên ga xe lửa. Đến cây bàng cổ thụ, nhìn lá bàng vàng ửng trên cây và rải rác trên mặt đất, anh biết mùa thu lại trở về. Chiều sân ga hoang vắng, làm Thăng nhớ bóng dáng con Bi lủi thủi theo An ngày nào, rồi hình ảnh nó nằm bên cạnh anh, nhai nhân quả bàng hay chạy lon ton đằng sau Miện. Một cơn gió thổi đến bất chợt, cuốn tung lá bàng lên cao, rồi lác đác rơi xuống đất như vết chân người. Nắng xuống chân đồi. Thăng bước nhanh về hướng ánh sáng đang ra đi, như sợ bị dìm vào bóng tối đang chầm chậm tiến đến đằng sau ga xe lửa. Một ngày trôi qua thật nhanh!

*
Mùa hè năm đó, Miện học xong trung học, cha cô mang ba mươi tư tấm tranh vào Nam triển lãm. Buổi sáng hôm nay, cô giúp cha mang tranh ra ga và tiễn cha lên đường. Tuần lễ trước, mỗi ngày, trong khi lựa chọn tranh, cô đều được nghe cha kể về mẹ và nỗi lòng của cha, khi vẽ những bức tranh mà mẹ làm mẫu. Thăng đang nói với con về ba tấm tranh đang treo trong phòng Miện. Tấm tranh thứ nhất, An trên đường chiều ra bến sông. Vẽ toàn cảnh nhưng nổi bật điểm sáng của đôi mắt, diễn tả nụ cười trên khuôn mặt. Nắng chiều một nửa đồi núi phía sau. Tấm tranh thứ nhì, An ngồi trên bến sông buổi sáng tháng chạp. Vẽ cận cảnh và trắc diện khuôn mặt. Đây là bức tranh Thăng cho rằng mình diễn tả hết tình cảm nhớ nhung đối với An, màu sắc tương phản hai phía trước sau khuôn mặt, như thể giằng kéo ước muốn tâm hồn. Anh vẽ hoàn toàn theo trí nhớ và nụ cười của An chỉ phảng phất, vì cô nhìn nghiêng. Bức tranh thứ ba, An làm mẫu hai mươi phút. Đây là bức tranh hạnh phúc, vì thời gian này hai người yêu nhau. Những tảng màu nóng khéo léo đặt cạnh nhau tạo một không gian oi nồng mùa hạ, nền một cô gái áo trắng ngồi nghiêng trên cỏ úa vàng, sau lưng An là dòng sông thời gian chảy chan hòa hạnh phúc nhờ vào nụ cười tươi vui của cô.

Miện mở to mắt nghe cha kể rồi cô nói với cha rằng, mình thường có một giấc mơ, và khi tỉnh giấc lại có cảm giác đang ở trong không gian quen thuộc nào đó. Giấc mơ tuy lạ lùng, nhưng cảm giác thân quen ấm áp từng đến với cô. Cô gặp người đàn bà nghiêng mặt mỉm cười với tóc bay trong gió, nói chuyện với cô mà nội dung cô không nhớ rõ, nhưng vẫn quả quyết là mẹ của mình. Miện nói với cha:

“Con chỉ ao ước mình nói được tiếng “Mẹ” trong giấc mơ, nhưng hình như không bao giờ thốt ra được. Giấc mơ ấy chan hòa niềm vui, hạnh phúc, mà khi tỉnh giấc nỗi khao khát như còn đọng lại trong lòng. Mẹ vẫn là hình bóng xa lạ trong giấc mơ của con. Con rất buồn!”

Trong lúc xe lửa từ từ rời ga, Thăng đứng lên nhìn qua cửa sổ thấy con đưa tay vẫy chào. Anh nhìn khung cảnh sau lưng con, như thấy phần nền dĩ vãng của ba bức tranh, miêu tả một số phận, nhưng số phận này lại hóa thân vào nhiều cuộc đời. Thăng nhớ lại lời con nói hôm trước như tiếng vọng sắc màu âm thanh. Đó là ước mơ của Miện. Nếu ngày hôm nay có một nụ cười nơi con anh thì cũng chỉ là nụ cười buồn dù Miện rất giống mẹ. Nụ cười buồn mùa hè ấy là phiên bản của một hạnh phúc có thật, nhưng đã mất tự bao giờ.

Chiếc xe lửa qua khúc quanh, Thăng nhìn chiếc bóng cô đơn của con nhỏ dần bên hai thanh ray đường sắt. Cây bàng cổ thụ càng xa càng giống bà ngoại Miện đang cho gà ăn. Thăng nhớ con từng nói với anh như thế, rồi anh tự hứa sẽ mua cho Miện một con chó con khi trở về nhà.

 
 

Tháng 5-2009

Lê Lạc Giao