| |

Lòng yêu nước đúng nghĩa phải tránh được cả sự tự dằn vặt lẫn thói tự mãn**
Tôi không lớn lên với tình yêu thương dành cho nước Mỹ, không phải vì tôi nghĩ đất nước này không xứng đáng được yêu thương, mà đơn giản là vì tôi chưa từng nghĩ đến điều đó. Nước Mỹ trong tôi gắn liền với Lời Tuyên thệ Trung thành và bài quốc ca "The Star-Spangled Banner"; với các chương trình truyền hình như "Maverick" và "Gunsmoke"; với Ed Sullivan, những buổi khiêu vũ thời trung học và những chiếc xe hơi cỡ lớn có phần đuôi vểnh lên đặc trưng; với những quầy nước ngọt, Elvis và trò chơi bóng gậy đường phố (stickball); với Valley Forge và George Washington. Đó cũng là một nước Mỹ mang đậm màu sắc da trắng, chủ yếu là nam giới và thuộc tầng lớp trung lưu vững chắc; còn tôi thì hầu như chẳng bao giờ bận tâm đến vấn đề chủng tộc, giai cấp hay bất cứ điều gì tương tự.
Tùy thuộc vào nơi bạn sinh ra, nước Mỹ có thể là bầu trời chiều trên vùng Northfield, Connecticut, hay những cánh đồng hoa bluebonnet ở Ennis, Texas. Với một thiếu niên sống tại New York vào thập niên 1960, nước Mỹ thật tuyệt vời. Đất nước này đã cứu thế giới khỏi chủ nghĩa phát xít và giờ đây đứng vững như một thành trì chống lại chủ nghĩa cộng sản. Mickey Mantle là người tốt; Nikita Khrushchev là kẻ xấu. Trí nhớ có thể đã phai nhạt, nhưng tôi không tài nào nhớ nổi bất kỳ ai mà mình quen biết từng bày tỏ tình yêu với nước Mỹ—ít nhất là cho đến khi tôi 25 tuổi và đang sống tại Charleston, South Carolina.
Đó là mùa đông năm 1973, và những lời ấy được thốt ra bởi một người đàn ông 68 tuổi quê ở Brooklyn tên là William McKissack Chapman. Với dáng người cao gầy, mái tóc xám cứng và hàng ria mép xám mỏng, Bill từng là phóng viên cho tờ Brooklyn Eagle (nay đã ngừng hoạt động), biên tập viên tại Time-Life và là một trong những người sáng lập tạp chí Sports Illustrated. Ông còn quá trẻ để tham gia Thế chiến thứ nhất nhưng đã đưa tin từ châu Âu trong Thế chiến thứ hai. Tại Paris năm 1945, ông từng uống rượu cùng Ernest Hemingway—người mà ông coi là kẻ hay khoác lác. Giờ đây, gần ba mươi năm sau, trong ngôi nhà sang trọng nhưng đã nhuốm màu thời gian tại số 30 phố King, ông đang trầm ngâm suy ngẫm về Việt Nam và vụ Watergate—hai sự kiện chiếm sóng tin tức thời bấy giờ. Sau một thoáng im lặng, ông đặt ly nước xuống và nói bằng giọng vừa bâng khuâng vừa kiên định: "Chúa ơi, tôi yêu đất nước này."
Và điều đó khiến tôi sững sờ. Bill thuộc tuýp người cổ điển, không hay bộc lộ cảm xúc, vì thế tôi hiểu rằng ông yêu nước Mỹ theo một cách rất khác so với tôi. Nếu như trước đây tôi từng coi sự hiện diện của đất nước là điều hiển nhiên, thì giờ đây tôi không thể làm thế được nữa. Cuộc đấu tranh vì quyền công dân, cách chính phủ đối xử với người Mỹ bản địa và người gốc Hoa, chủ nghĩa McCarthy cùng danh sách đen, và cuộc chiến tranh ngu ngốc, đẫm máu tại Việt Nam đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ. "Yêu lấy nó hoặc rời đi" – đó là lời thúc giục của những người yêu nước cứng rắn, và đã có ít nhất sáu mươi nghìn thanh niên bỏ trốn sang Canada hoặc châu Âu để tránh lệnh tòng quân.
Chiến tranh Việt Nam là lần đầu tiên tôi thực sự suy ngẫm về lòng yêu nước. Nghĩa vụ quân sự vốn chẳng phải là điều gì hiện hữu trong tuổi thơ tôi, nhưng việc phải trình diện trước hội đồng tuyển quân vào năm 1969 đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh mẽ. Tôi có thể sẽ phải bỏ mạng vì đất nước. Bỗng chốc, việc là một người Mỹ không còn là khái niệm trừu tượng nữa; nó mang lại những hệ quả thực tế, và tất nhiên, tôi đã dao động. Đây đâu phải là Trân Châu Cảng; đây là sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Và, cũng giống như Muhammad Ali, tôi chẳng có "mối thù hằn nào với đám người Việt Cộng cả". Liệu điều đó có biến tôi thành một người Mỹ tồi tệ? Một người Mỹ thiếu lòng yêu nước? Rốt cuộc, tôi bốc trúng số thứ tự cao trong đợt bốc thăm nghĩa vụ quân sự và không phải vượt quãng đường tám nghìn dặm để ngăn chặn làn sóng cộng sản. Dẫu vậy, tôi vẫn thoáng chút cảm giác tội lỗi khi bỏ lỡ một trải nghiệm mang tính định hình đối với những người đàn ông thuộc thế hệ của mình.
Khi Bill nói rằng anh yêu nước Mỹ, anh cũng đồng thời bày tỏ nỗi thất vọng về đất nước này. Hồ sơ Lầu Năm Góc (Pentagon Papers), được công bố hai năm trước đó, đã phơi bày việc chính phủ nói dối về một cuộc chiến mà quân đội biết rõ là không thể thắng ngay từ năm 1965. Và vụ bê bối Watergate, bùng nổ vào năm 1972, đã gây tổn thương cho thế hệ của Bill sâu sắc hơn so với thế hệ của tôi. Hóa ra Richard Nixon là kẻ gian trá, còn Henry Kissinger, theo nhận định của tôi, đã kéo dài cuộc chiến để giúp Nixon tái đắc cử. Đến thời điểm ký Hiệp định Hòa bình Paris vào tháng 1 năm 1973, hàng ngàn binh sĩ Mỹ nữa cùng vô số thường dân Việt Nam và Campuchia đã thiệt mạng. "Hòa bình trong danh dự" chỉ là một cụm từ nhảm nhí dùng để che đậy những cái chết và thương tật vượt xa mọi sự thống kê trung thực. Lương tâm tôi thanh thản. Chẳng cần phải cảm thấy tội lỗi, hoàn toàn không cần thiết.
Lòng yêu nước xét về khái niệm, nếu không nói là về từ ngữ, có lẽ đã xuất hiện trong quá trình hình thành các polis (thành bang) Hy Lạp vào thế kỷ thứ tám trước Công nguyên. Trong tác phẩm Crito của Plato (khoảng năm 399 TCN), Socrates, người bị kết án tử hình một cách bất công, quyết định không chống lại bản án của mình. Vì đã chọn sống trong một xã hội công dân, ông cảm thấy mình có nghĩa vụ danh dự phải tuân thủ luật pháp của xã hội đó. Người bạn Crito của ông lại không đồng tình: nếu luật pháp bất công, người ta có quyền không tuân theo nó. Ông ấy cho rằng Socrates nên suy nghĩ lại và trốn khỏi Athens ngay lập tức. Tôi cũng nghĩ vậy.
Lòng yêu nước bắt nguồn từ từ patris trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "đất cha ông" (fatherland) hay "quê hương" (native country) đã du nhập vào châu Âu giữa những biến động chính trị - tôn giáo đan xen phức tạp. Trong cuộc Chiến tranh Ba mươi năm (1618–1648), người Công giáo và người theo đạo Tin lành ở Pháp không hề coi nhau là đồng bào (compatriotes). Thực tế, phải đến khoảng năm 1750, từ patriote mới lần đầu tiên được sử dụng theo nghĩa hiện đại, bởi Công tước xứ Saint-Simon. Khi ấy, nền tảng tư tưởng cho thuật ngữ này đã bắt đầu hình thành. Tác phẩm "Hai Khảo luận về chính quyền" (1689) của John Locke, "Tiểu luận về Phong tục và Tinh thần Dân tộc" (1756) của Voltaire, và vài năm sau đó là khái niệm Geist des Volkes (Tinh thần dân tộc) của Johann Gottfried Herder, tất cả đều khiến niềm tự hào dân tộc như một hệ quả hợp lý bắt nguồn từ những tập quán, truyền thống và ngôn ngữ chung.
Từ đó, các nhà văn đã tốn không ít giấy mực bàn về lòng yêu nước. Mark Twain, H. L. Mencken, George Bernard Shaw và Ursula K. Le Guin đều tỏ thái độ hoài nghi về nó. Samuel Johnson gọi đó là "nơi trú ẩn cuối cùng của kẻ vô lại", còn Leo Tolstoy ví nó như chế độ nô lệ. Ban đầu, Jorge Luis Borges cho rằng "những ảo tưởng về lòng yêu nước là vô tận", và ông nhắc lại việc Plutarch từng chế giễu những kẻ tuyên bố rằng mặt trăng ở Athens đẹp hơn mặt trăng ở Corinth. Nhiều năm sau, có lẽ vì cảm thấy lạc lõng, Borges đã cầu xin các vị thần gửi đến cho ông một ai đó hoặc điều gì đó. "Họ đã làm vậy," ông viết. "Đó chính là đất nước tôi."
George Orwell có cái nhìn thiện cảm hơn so với đa số. Ông viết rằng lòng yêu nước là "sự gắn bó với một nơi chốn và một lối sống cụ thể, nơi mà ta tin là tốt đẹp nhất thế giới nhưng lại không hề có ý định áp đặt nó lên người khác." Vấn đề nằm ở chủ nghĩa dân tộc (nationalism); ông cho rằng chủ nghĩa này "không thể tách rời khỏi khát vọng quyền lực." Tuy nhiên, ranh giới giữa các khái niệm này lại rất mong manh. Sự gắn bó với một mảnh đất có thể dễ dàng biến thành chủ nghĩa biệt lập, chủ nghĩa dân tộc cực đoan và nạn phân biệt chủng tộc. Voltaire từng nhận xét: "Thật đáng buồn khi để trở thành một người yêu nước chân chính, người ta thường phải trở thành kẻ thù của phần còn lại nhân loại." Gần đây hơn, triết gia Richard Rorty đã đưa ra những lập luận thuyết phục để bảo vệ lòng yêu nước, trong khi Martha Nussbaum vẫn tiếp tục kiếm tìm trong sự hạn chế nó.
Không hề nản lòng, vào năm 1991, nhà sử học Michael Kammen đã nhận định rằng lòng yêu nước của người Mỹ từ lâu vẫn là "một chủ đề bị bỏ quên một cách kỳ lạ". Công trình nghiên cứu đồ sộ và phong phú của ông, Mystic Chords of Memory (tạm dịch: Những sợi dây ký ức bí ẩn), không nhằm mục đích lấp đầy khoảng trống đó, mà để làm rõ ý kiến của Robert Penn Warren: trở thành người Mỹ không phải là chuyện "huyết thống; đó là chuyện về một ý niệm, và lịch sử chính là hình ảnh phản chiếu của ý niệm ấy". Nếu coi các nhà sử học là những người viết tiểu sử cho một quốc gia, thì khi chịu sự chi phối bởi những thiên kiến và tình cảm riêng, khái niệm về "một Nước Mỹ" sẽ nhanh chóng tan biến. Một quốc gia tích lũy lịch sử thì tất yếu cũng sẽ tích lũy nhiều dòng lịch sử khác nhau. Chẳng hạn như những cuốn sách giáo khoa thời xưa, thường thấy ở vùng phía nam đường ranh Mason-Dixon*** vốn mô tả Nội chiến như một cuộc đấu tranh anh dũng nhằm bảo vệ một lối sống, nơi những người nô lệ được cho là được chăm sóc chu đáo bởi các chủ nô da trắng nhân từ.
Chắc chắn việc tuyên bố giữ thái độ khách quan không đảm bảo cho sự thật. Có rất nhiều tài liệu tập trung vào sự đối lập giữa lý tưởng và thực tế tại Mỹ, nhưng liệu ta có thể tin tưởng những ghi chép đó chỉ vì chúng phơi bày những điều mà các bộ sử khác che giấu? Chẳng hạn, hai hình ảnh nước Mỹ hoàn toàn khác biệt và không thể dung hòa hiện lên qua các tác phẩm A People’s History of the United States (Lịch sử Hoa Kỳ nhìn từ góc độ người dân) của Howard Zinn và A History of the American People (Lịch sử Người Mỹ) của Paul Johnson; một bên tập trung vào những khiếm khuyết chí mạng, còn bên kia lại tôn vinh những vinh quang chói lọi. Kammen kết luận rằng, mặc dù "chúng ta có thể nói về một truyền thống yêu nước của người Mỹ", nhưng thực tế đó lại là "một truyền thống không ổn định, đầy rẫy những thăng trầm".
Dường như chúng ta đang ở trong giai đoạn đi xuống của tinh thần này. Một cuộc thăm dò của Gallup cho thấy trong hơn một thập kỷ qua, tỷ lệ người Mỹ tự nhận là "vô cùng tự hào khi là người Mỹ" đã sụt giảm tới 16 điểm phần trăm. Một cuộc thăm dò gần đây của Harris ghi nhận rằng cứ mười người Mỹ thì có khoảng bốn người từng cân nhắc việc chuyển ra nước ngoài sinh sống, và xu hướng này thậm chí còn phổ biến hơn ở giới trẻ. Tháng 5 năm rồi, tạp chí Newsweek đã đăng một bài viết với tiêu đề đầy vẻ u sầu: "Tại sao việc sở hữu hai quốc tịch lại trở thành Giấc mơ Mỹ mới". Một số nhà bình luận cho rằng điều này xuất phát từ sự thận trọng về tài chính, nhưng thực tế xu hướng này đã bắt đầu từ ít nhất là năm 2016, thời điểm diễn ra cuộc bầu cử đưa Donald Trump lên nắm quyền.
Lòng yêu nước dường như không còn là điều gì đó "thời thượng" nữa. Phong trào "Wokeness" (nhận thức về các vấn đề bất công xã hội) dù đã rất đúng đắn khi thu hút sự chú ý vào những bất công về chủng tộc và giới tính vốn tồn tại như dịch bệnh trong đời sống Mỹ, lại góp phần làm nguội lạnh niềm ngưỡng mộ của phe cánh tả đối với đất nước; đồng thời, những biểu hiện vụng về của phong trào này (như văn hóa tẩy chay, chỉ trích gay gắt việc chiếm dụng văn hóa và thói quen lên mặt dạy đời) đã đẩy những người theo quan điểm trung dung ngả sang cánh hữu. Có thể nói, lòng yêu nước không hề mất đi; nó chỉ khoác lên mình một diện mạo khác. Những chiếc mũ kiểu Viking, áo sơ mi in hình ngôi sao, áo khoác kiểu quân đội, chưa kể đến những chiếc mũ MAGA đã trở thành trang phục yêu nước được ưa chuộng. Giờ đây, lòng yêu nước giống một "thương hiệu" hơn là một tinh thần, khiến những người có phong cách ăn mặc giản dị, kín đáo khó lòng cảm thấy mình thuộc về nó.
Tất nhiên, ngôn ngữ của lòng yêu nước dành cho bất kỳ ai cảm thấy gắn bó, trung thành với một hoặc nhiều vùng đất. Theo cuốn sách mới đây của Amy Watson có tựa đề "Patriots Before Revolution: The Rise of Party Politics in the British Atlantic, 1714-1763" (tạm dịch: Những người yêu nước trước Cách mạng: Sự trỗi dậy của chính trị đảng phái tại vùng Đại Tây Dương thuộc Anh, 1714-1763), các chính trị gia có tư tưởng cải cách tại Anh đã sử dụng thuật ngữ này như một lời kêu gọi xây dựng một đế chế nhân văn và công bằng hơn; ở đó, các cơ quan lập pháp và tòa án tại thuộc địa có quyền lực lớn hơn, còn công dân ở cả hai bờ Đại Tây Dương đều được hưởng các quyền tự do hiến định mạnh mẽ hơn. Watson đưa ra lập luận đầy thuyết phục rằng, nếu phe "những người yêu nước" tại Anh giữ được ưu thế trong chính trường đế quốc, có lẽ Bắc Mỹ đã không bao giờ tách khỏi Đế quốc Anh.
Khi cuộc Chiến tranh Cách mạng bùng nổ vào tháng 4 năm 1775, nước Mỹ vẫn chưa hình thành, chưa có Văn kiện Liên bang (Articles of Confederation), cũng chưa có quốc huy, quốc kỳ hay đồng tiền chung. Chỉ có những người thuộc địa đầy bất mãn giương cao lá cờ riêng của mình; một số lá cờ in hình rắn đuôi chuông cùng dòng chữ "Đừng chà đạp lên ta" (Don't Tread on Me). Dải đất dài hàng ngàn dặm từ Georgia đến New England khi ấy chưa phải là một quốc gia thống nhất, và những người lên đường ra trận đã làm điều đó trước khi thực sự có một đất nước để họ dành trọn lòng yêu nước. Liệu có ai thực sự nghe Nathan Hale nói câu: "Tôi chỉ tiếc rằng mình chỉ có một cuộc đời để hy sinh cho đất nước"? Thực tế, nhiều kẻ thực dân hẳn đã phải e sợ khi nghĩ đến điều đó. Các ước tính cho thấy tỷ lệ người ủng hộ độc lập chỉ dao động quanh mức 40%, trong khi khoảng 20% vẫn trung thành với Hoàng gia Anh và số còn lại thì chưa có lập trường rõ ràng. Quả thực, các nhà lập quốc thường xuyên viện đến "lòng yêu nước" như một cách để khắc sâu tư tưởng tự do vào tâm trí những người còn đang do dự.
Khi Alexis de Tocqueville đặt chân đến đây vào năm 1831, ông nhận thấy "tinh thần yêu nước đầy nhạy cảm" của người Mỹ; tinh thần này ngăn trở việc chỉ trích quốc gia non trẻ nhưng đồng thời cũng không phải là "tình yêu đất nước mang tính bản năng", bởi lẽ nước Mỹ khi ấy còn quá thiếu vắng các phong tục và truyền thống. Và vì "chủ quyền của Liên bang là thứ được tạo dựng" còn "chủ quyền của các bang mới là tự nhiên", nên tình cảm của người dân lẽ dĩ nhiên thường hướng về những gì gần gũi ngay trước mắt: thị trấn, vùng miền và tiểu bang của họ. Khi đến thăm Tòa nhà Quốc hội vào năm 1860, chàng thanh niên Henry Adams đã nhận định rằng việc ly khai "có lẽ sẽ dễ dàng thực hiện ở một nơi mà người ta chẳng có thứ gì để ly khai khỏi đó. Liên bang chỉ là một niềm cảm thức, chứ chẳng hơn gì mấy." Minh chứng cho điều này đã xuất hiện khi lực lượng Liên minh miền Nam nã pháo vào Pháo đài Sumter, nơi đang do quân Liên bang kiểm soát tại Cảng Charleston.
Sau cuộc trò chuyện với Bill Chapman, tôi suy ngẫm về lòng yêu nước cũng nhiều như khi nghĩ về trái cây sấy khô vậy. Tôi cho rằng hầu hết mọi người chẳng mấy khi bận tâm suy ngẫm sâu xa về những khía cạnh tinh tế của lòng yêu nước. Một khi những lời lẽ sáo rỗng của giới chính trị gia, những câu nói rập khuôn của các bình luận viên và sự ồn ào náo nhiệt của trận chung kết Super Bowl đã lắng xuống, thì lòng yêu nước chỉ còn là một thứ gì đó âm thầm hiện hữu trong đời sống thường nhật. Tuy nhiên, đôi khi nó lại bất ngờ ập đến với chúng ta. Lễ kỷ niệm 200 năm thành lập đất nước vào năm 1976, với đoàn tàu buồm hùng vĩ diễu hành trên cảng New York là một khoảnh khắc như thế; và ngay lúc tôi đang viết những dòng này, một cột mốc khác đang đến gần: lễ kỷ niệm 250 năm thành lập quốc gia. Theo trang america250.org, sự kiện kỷ niệm 250 năm này được kỳ vọng sẽ là "lễ kỷ niệm lớn nhất trong lịch sử đất nước". Liệu nó có vượt qua được quy mô của lễ kỷ niệm 200 năm hay không thì còn phải chờ xem, nhưng xét đến người đang nắm quyền tại Nhà Trắng hiện nay, tôi đang chuẩn bị tinh thần cho những màn phô trương thái quá và ngớ ngẩn. Tôi chỉ cầu mong sao người ta có thể thuyết phục được Sylvester Stallone hát bài quốc ca.
Không phải là tôi cho rằng việc thể hiện lòng yêu nước là không cần thiết; chỉ là tôi thích những hình thức bày tỏ lòng trung thành ít ồn ào và ít mang màu sắc quân sự hơn. Mười ngày sau khi Tòa tháp Đôi sụp đổ, đội New York Mets đã có trận đấu với đội Atlanta Braves tại sân vận động Shea. Giống như hầu hết người dân New York trên ba tuổi, tôi đã theo dõi trận đấu này qua truyền hình. Bạn vẫn có thể tìm thấy video trận đấu trên YouTube, và nếu xem kỹ, bạn sẽ thấy rằng sau khi bài quốc ca kết thúc, các cầu thủ và huấn luyện viên của cả hai đội đã tập trung lại ở khoảng giữa vị trí đĩa nhà (home plate) và gò ném bóng (pitcher’s mound) để ôm và bắt tay nhau, một cảnh tượng hiếm thấy trong các trận đấu thường ngày. Nhiều năm sau, Mark DeRosa, cầu thủ đa năng chơi ở khu vực nội dã (infielder) của đội Braves đã chia sẻ: "Đó là trận đấu duy nhất mà tôi không hề cảm thấy buồn khi thua cuộc, kể từ khi tôi bắt đầu chơi bóng lúc mới chín tuổi." Đó, bạn tôi ạ, chính là lòng yêu nước.
Tuy nhiên, điều mà tôi không coi là lòng yêu nước dù đôi khi nó vẫn được khoác lên cái mác đó, chính là hành động của đám đông đã xông vào Điện Capitol Hoa Kỳ vào ngày 6 tháng 1 năm 2021 nhằm ngăn cản Quốc hội xác nhận kết quả cuộc bầu cử năm 2020. Dù sự việc thật kinh khủng, nhưng nó mang dáng dấp của một đám đông hỗn loạn, xấu xí, chỉ chực chờ phá phách và phô trương bản thân hơn là một cuộc nổi dậy thực thụ. Chẳng phải đám người bạo loạn ấy trông như đang cố tạo dáng trước ống kính và khoe mẽ với nhau sao? Nhiều kẻ mang theo cờ Mỹ; hành động đó khiến họ trở thành "người yêu nước" theo cái cách mà việc cầm một ổ bánh mì biến tôi thành thợ làm bánh vậy. Và khi họ xông vào Điện Capitol rồi bắt đầu hôi của, cảm giác hệt như thể có kẻ nào đó vừa vẽ bậy những hình ảnh tục tĩu lên tường nhà tôi.
Điều trớ trêu đau lòng là những kẻ tự xưng là người yêu nước này lại hành xử hoàn toàn trái ngược với tinh thần Mỹ; họ chà đạp lên Hiến pháp trong nỗ lực ngăn cản quá trình chuyển giao quyền lực hòa bình. Khi đặt lên bàn cân so sánh, những kẻ theo chủ nghĩa Quốc xã Mỹ từng đấu tranh tại tòa án để giành quyền tuần hành ở Skokie, Illinois vào năm 1977, lại mang đậm "chất Mỹ" hơn hẳn đám đông bị Trump kích động, những kẻ đã biến trung tâm quyền lực của đất nước thành hiện trường vụ án. Người ta có thể ngây thơ nghĩ rằng việc tấn công Điện Capitol không phải là tấm vé miễn tội, thế nhưng ngay ngày đầu tiên của nhiệm kỳ thứ hai, Trump đã ban lệnh ân xá cho hơn 1.500 kẻ bạo loạn (đang bị buộc tội hoặc đã bị kết án) và giảm án cho 14 người khác.
"Không ai nên tin tưởng một nhóm người không chịu trách nhiệm trước bất kỳ ai," Thomas Paine đã cảnh báo như vậy từ 235 năm trước. Trump và đám tay chân của ông ta khiến Nixon cùng bè lũ của mình trông chẳng khác nào những kẻ nghiệp dư. Trong thế giới của Trump, nước Mỹ bị mang tiếng xấu, nhưng chính Trump lại dành nhiều năm để bôi nhọ đất nước này. Vào tháng Ba, ông ta đã ban hành một sắc lệnh hành pháp khẳng định rằng có một "phong trào xét lại" đang tìm cách viết lại lịch sử nước Mỹ, cố tình mô tả "di sản vô song về việc thúc đẩy tự do, quyền cá nhân và hạnh phúc con người" của chúng ta là thứ "vốn dĩ mang tính phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, áp bức, hoặc sai lầm đến mức không thể cứu vãn".
Khoan đã nào, thưa Tổng thống. Lịch sử của chúng ta vốn phức tạp, và càng trở nên rối ren hơn bởi vấn đề chủng tộc. Khoảng năm trăm bộ tộc bản địa đã sinh sống tại đây trước khi những người châu Phi bị bắt làm nô lệ đầu tiên đặt chân đến vào năm 1619, một năm trước khi những người hành hương (Pilgrims) đầu tiên cập bến. Đó cũng là lịch sử nước Mỹ, bên cạnh các giai đoạn như Tái thiết (Reconstruction), luật Jim Crow, sự phân biệt chủng tộc, Cuộc Đại di cư (Great Migration), cũng như nỗi phẫn nộ, khiếu hài hước và văn hóa của người da đen. Đây không phải là trào lưu "woke" (nhạy cảm thái quá về các vấn đề xã hội); đây là sự thật.
Nước Mỹ dưới thời Trump có ưu điểm là sự đơn giản: không có những chia rẽ ngay từ đầu; không có chuyện phân định giữa phe trung thành và phe yêu nước, hay giữa người bản địa và người định cư, hay giữa phe Liên bang và phe chống Liên bang. Ông không bận tâm đến các cuộc bất ổn lao động, tình trạng bỏ tù bất công hay những luồng tư tưởng dân tộc chủ nghĩa da trắng ngầm chảy trong xã hội. Sự khiếm khuyết chỉ dành cho kẻ thua cuộc, còn nước Mỹ là kẻ chiến thắng. Quá khứ hẳn đã phải rất huy hoàng, nếu không, làm sao Trump có thể làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại? Sau khi trở lại nắm quyền, ông nhanh chóng khôi phục Ủy ban 1776 nhằm thanh lọc trường học khỏi "những hệ tư tưởng chống Mỹ" thông qua "các biện pháp giáo dục lòng yêu nước", với mục đích khơi dậy "sự ngưỡng mộ đầy lòng yêu nước đối với Đất nước tuyệt vời của chúng ta". Trên thực tế, điều này đồng nghĩa với việc học cách lãng quên.
Vào năm 2024, khi Ủy ban Cố vấn Công dân về Đúc tiền (một cơ quan lưỡng đảng) đề xuất các mẫu thiết kế cho ba loại đồng xu 25 xu kỷ niệm 250 năm các sự kiện: bãi bỏ chế độ nô lệ, quyền bầu cử của phụ nữ và phong trào đòi quyền công dân, thì Bộ trưởng Tài chính rốt cuộc đã gạt bỏ chúng. Tất nhiên là ông ấy làm vậy rồi. Trump đang rao bán một nước Mỹ theo một phiên bản khác, nơi những chương sử rối ren nhất bị lược bỏ hoặc gạt sang một bên. Nếu để ông ấy tự do hành động, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ thấy sự trở lại của kiểu lịch sử tô hồng đầy lãng mạn (như những ly cocktail bạc hà mint-julep ngọt ngào) từng phổ biến cách đây một thế kỷ—thứ lịch sử không dành chỗ cho những người Mỹ da đen từng chiến đấu vì đất nước này.
Lòng yêu nước đối với người Mỹ da đen là một chủ đề đầy trăn trở và phức tạp. Mặc dù Crispus Attucks, một người da đen đã được trả tự do, là người đầu tiên thiệt mạng trong vụ Thảm sát Boston năm 1770, nhưng ban đầu Tướng George Washington lại phản đối việc tuyển mộ binh lính da đen. Một số người thuộc địa rõ ràng đã tỏ thái độ e ngại khi thấy những nô lệ cầm vũ khí; những người khác lại lo lắng rằng "tài sản" của họ có thể bị hư hại hoặc mất mát. Chỉ khi biết tin quân Anh hứa trao trả tự do cho những nô lệ gia nhập hàng ngũ của họ, Washington mới thay đổi quyết định. Có khoảng từ bảy đến chín nghìn người Mỹ gốc Phi đã phục vụ trong Lục quân và Hải quân Lục địa, nhưng số lượng người chiến đấu bên phía quân Anh lại đông gấp ba lần con số đó. Sau chiến tranh, một số binh sĩ da đen thuộc quân Lục địa được trả tự do, tuy nhiên, nhiều người khác lại không được như vậy.
Người Mỹ gốc Phi nhìn nhận nền độc lập như thế nào? Bài diễn văn đầy sức lay động năm 1852 của Frederick Douglass, mang tên "Ngày 4 tháng 7 có ý nghĩa gì đối với người nô lệ?", đã đưa ra một câu trả lời:
Đối với người nô lệ, lễ kỷ niệm của quý vị chỉ là trò lừa dối; nền tự do mà quý vị tự hào khoe khoang thực chất là sự phóng túng bất chính; sự vĩ đại của quốc gia chỉ là thói kiêu ngạo hợm hĩnh; những âm thanh hân hoan của quý vị thật sáo rỗng và vô cảm; việc quý vị lên án những kẻ bạo chúa là sự trơ trẽn đến mức trơ lì; những tiếng hô vang về tự do và bình đẳng chỉ là sự chế giễu trống rỗng; còn những lời cầu nguyện, thánh ca, bài giảng và lễ tạ ơn, cùng tất cả vẻ trang trọng và phô trương tôn giáo của quý vị đối với họ, chẳng qua chỉ là những lời lẽ sáo rỗng, sự gian trá, lừa lọc, bất kính và đạo đức giả.
Chín năm sau, Douglass chứng kiến hai người con trai của mình lên đường tham gia một cuộc chiến mà cả phe Liên bang (Union) lẫn phe Liên minh miền Nam (Confederacy) đều tự nhận mình là những người yêu nước chân chính. Liệu điều tương tự có thể nói về những người Mỹ gốc Phi, dù là người tự do hay nô lệ đã gia nhập quân đội? Suy cho cùng, họ không được coi là những công dân "Mỹ" thực thụ. Phán quyết trong vụ kiện Dred Scott năm 1857 khẳng định rằng người da màu không thuộc về "nhân dân", những người đã tuyên bố độc lập, và do đó, họ không thể trở thành công dân hay kiện chính phủ để đòi quyền tự do. Tuy nhiên, đến khi Nội chiến kết thúc, đã có khoảng 179.000 nam giới da đen gia nhập Lục quân Liên bang, cùng 19.000 người khác đăng ký vào Hải quân. Binh sĩ da trắng thuộc phe Liên bang nhận mức lương 13 đô la mỗi tháng, trong khi binh sĩ da đen cho đến tháng 6 năm 1864, chỉ được trả 7 đô la.
Việc phục vụ trong quân đội từ lâu đã mang lại cả mục đích sống lẫn thu nhập. Nam giới da đen đã nhập ngũ trong và sau thời kỳ Tái thiết, cũng như chiến đấu trong hai cuộc Thế chiến, tất nhiên là trong các đơn vị bị phân biệt chủng tộc. Liệu lòng yêu nước có phải là động lực thúc đẩy họ? Tại các bang miền Nam, và cả các bang biên giới như Maryland, Missouri và Delaware, chế độ Jim Crow vẫn hoành hành; các vụ hành hình không qua xét xử (lynching) diễn ra phổ biến ở vùng Sâu miền Nam (Deep South), trong khi những kẻ thủ ác hiếm khi bị trừng phạt. Có vẻ như nhiều người đã nhập ngũ với hy vọng rằng việc phục vụ quân đội sẽ mở ra cơ hội tốt hơn cho bản thân và cho cả chủng tộc của mình; và chính tâm trạng giằng xé, mâu thuẫn của họ đối với quốc gia này là một chủ đề xuyên suốt trong văn học của người Mỹ gốc Phi.
Trong bài thơ "America" (năm 1921) của Claude McKay, một nhà thơ thuộc phong trào Harlem sinh ra tại Jamaica, vấn đề chủng tộc không nhắc đến trực tiếp nhưng lại thấm đẫm trong từng câu chữ:
Dẫu người cho ta ăn bánh mì đắng cay,
Và cắm nanh hổ vào cuống họng ta,
Cướp đi hơi thở sống, ta vẫn phải thú nhận
Rằng ta yêu cái địa ngục văn hóa đang thử thách tuổi xuân mình.
Sức sống của người cuộn chảy trong huyết quản ta như thủy triều,
Ban cho ta sức mạnh để đứng thẳng chống lại lòng căm thù của người.
(Although she feeds me bread of bitterness,
And sinks into my throat her tiger’s tooth,
Stealing my breath of life, I will confess
I love this cultured hell that tests my youth.
Her vigor flows like tides into my blood,
Giving me strength erect against her hate.)
Mười lăm năm sau, trong bài thơ "Let America Be America Again" (Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ), Langston Hughes đã bộc bạch rằng: "Nước Mỹ chưa bao giờ thực sự là nước Mỹ đối với tôi." Khi nói "tôi", ông ám chỉ "người da đen mang trên mình những vết sẹo nô lệ... người da đỏ bị xua đuổi khỏi vùng đất của mình... người di dân ôm ấp niềm hy vọng mà tôi tìm kiếm— / Để rồi chỉ thấy lại cái kế hoạch ngu xuẩn cũ kỹ / Nơi kẻ mạnh nuốt chửng kẻ yếu, nơi cường quyền chà đạp kẻ yếu thế." Chẳng có lý do gì để Hughes cảm thấy khác đi cả. "Chú Sam" (Uncle Sam) đâu phải là người chú ruột thịt của ông. Đó là "Kẻ nắm quyền" (the Man) – kẻ đã ngăn cản người Mỹ da đen đi bỏ phiếu rồi lại ra lệnh bắt họ phải ra nước ngoài tham chiến tại Việt Nam. Muhammad Ali lẽ ra không cần phải viện dẫn lý do tôn giáo để xin miễn nhập ngũ; lịch sử đã tự nó lên tiếng thay cho ông.
Trong lời tựa cho tập thơ "Leaves of Grass" (Những chiếc lá cỏ) xuất bản năm 1855, Walt Whitman đã dùng hình thức số nhiều: "Chính Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cốt lõi là bài thơ vĩ đại nhất."**** Ba mươi ba năm sau, trong mắt Whitman, "bài thơ" ấy đã kết tinh thành hình ảnh một "Người Mẹ vĩ đại, tỉnh táo, sừng sững và uy nghiêm." Thế nhưng, ngoài các bậc Quốc phụ, trận Alamo, Bài diễn văn Gettysburg, Trận chiến cuối cùng của Custer và công cuộc mở mang bờ cõi về phía Tây, thì còn điều gì để người ta cảm thấy tự hào yêu nước? Đây không phải là một câu hỏi vu vơ. Người ta yêu đất nước phần lớn vì họ yêu chính nơi chốn mà họ gọi là nhà. Dù đã có âm nhạc vùng miền, báo chí địa phương, những bức ảnh chụp kiểu daguerreotype và các tác phẩm của James Fenimore Cooper, Mark Twain hay Louisa May Alcott, nhưng hầu hết những bài hát, câu chuyện và hình ảnh biểu tượng mà ngày nay gợi nhắc mạnh mẽ về "nước Mỹ" thì khi ấy vẫn chưa hề tồn tại. Mặc dù bài hát “America the Beautiful”, sự kết hợp giữa ca từ của một nữ thi sĩ đấu tranh cho nữ quyền và đồng tính nữ với giai điệu của một nghệ sĩ đàn organ đến từ New Jersey — đã trở nên phổ biến sau năm 1910, nhưng phải đến năm 1931, bài quốc ca của chúng ta mới chính thức được công nhận.
Phải đến khi điện ảnh và phát thanh ra đời, ý thức về sự đoàn kết dân tộc trên quy mô rộng lớn mới bắt đầu hình thành rõ nét. Dù kho tàng ca khúc kinh điển Mỹ (Great American Songbook) vẫn còn ở phía trước trong những năm 1920, người dân khắp nơi đã có thể nghe những giai điệu từ Tin Pan Alley và, bắt đầu từ năm 1933, là những bài diễn văn "trò chuyện bên lò sưởi" (fireside chats) của Franklin D. Roosevelt. Hollywood cũng góp phần vào đó khi tung ra hàng loạt bộ phim như “Young Mr. Lincoln” (1939), “Mr. Smith Goes to Washington” (1939), “Meet John Doe” (1941) khơi dậy tinh thần yêu nước nồng nàn trên khắp nước Mỹ.
Có lẽ đó chính là cách tình yêu đất nước thấm sâu vào huyết quản, không phải qua các điều khoản luật pháp hay những bản tuyên ngôn, mà qua những giai điệu và những khung cảnh. Nếu bạn hỏi tôi vào năm 1969 tại sao tôi lại sẵn sàng giết một người hoàn toàn xa lạ vì đất nước mình, thì Đạo luật Nhân quyền (Bill of Rights) chắc chắn sẽ không phải là điều đầu tiên hiện lên trong tâm trí tôi. Thay vào đó, tôi sẽ nghĩ đến một cảnh trong bộ phim chuyển thể từ tác phẩm “Our Town” của Thornton Wilder, hay hình ảnh kíp lái máy bay ném bom B-17 đang đùa nghịch cùng nhau, hoặc buổi khiêu vũ ở trường trung học trong phim “It’s a Wonderful Life”. Khi Robert Penn Warren nói rằng trở thành người Mỹ là “một vấn đề thuộc về ý niệm”, ông đang ám chỉ đến những hình ảnh biến đổi không ngừng bao quanh ý niệm đó. Truyện ngắn “The Swimmers” của F. Scott Fitzgerald cũng cố gắng truyền tải điều này, khi nhân vật chính nhìn lại đường bờ biển nước Mỹ đang dần lùi xa và suy ngẫm, dù có phần bất công rằng:
Nước Pháp là một vùng đất, nước Anh là một dân tộc, nhưng nước Mỹ, nơi vẫn mang trong mình phẩm chất của một ý niệm, lại khó diễn tả thành lời hơn; đó là những ngôi mộ tại Shiloh, là những gương mặt mệt mỏi, hốc hác và đầy lo âu của các vĩ nhân, là những chàng trai thôn quê bỏ mạng tại Argonne vì một khẩu hiệu đã trở nên sáo rỗng ngay cả trước khi thân xác họ kịp tàn phai. Đó là nguyện vọng của trái tim.
(France was a land, England was a people, but America, having about it still that quality of the idea, was harder to utter—it was the graves at Shiloh and the tired, drawn, nervous faces of its great men, and the country boys dying in the Argonne for a phrase that was empty before their bodies withered. It was a willingness of the heart.)
Giờ đây, tôi đã lớn hơn mười tuổi so với Bill Chapman vào thời điểm ông thốt lên câu nói đầy xúc động, sau khi bị chấn động bởi vụ Hồ sơ Lầu Năm Góc (Pentagon Papers) và bê bối Watergate: “Lạy Chúa, tôi yêu đất nước này.” Tôi cảm thấy mình cũng nên nói ra được những lời đó, nhưng chúng không dễ dàng thốt ra. Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ rằng nước Mỹ có một điều gì đó thật khác biệt, một điều gì đó cao đẹp và đáng quý. Dẫu vậy, khái niệm "tính khác biệt" (exceptionalism) lại mang một hàm nghĩa khác khi gắn liền với chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa biệt lập. Phong trào MAGA, vốn mong muốn nước Mỹ trở nên "đậm chất Mỹ" hơn (more American), lại tôn sùng một quá khứ tưởng tượng, thời điểm trước khi các chính sách ưu đãi đặc biệt (affirmative action), nữ quyền, sự đa dạng và vấn đề nhập cư "tàn phá" mọi thứ. Không phải tất cả những người ủng hộ phong trào này đều hình dung về một nước Mỹ "thuần chủng" (không có sự pha trộn sắc tộc), nhưng họ thực sự tin rằng Trump mang lại lợi ích cho nước Mỹ, còn những người chỉ trích ông lại gây hại cho đất nước. Sự thật là, họ không thực sự thấu hiểu những giá trị mà Trump đại diện, ngay cả khi ông có những quyết định đúng đắn.
Như chúng ta đã biết, chế độ chuyên chế thường trỗi dậy thông qua việc biến người khác thành vật tế thần và đưa ra những lời hứa hẹn về các giải pháp tức thời. Đó là lý do tại sao những kẻ độc tài thường ưa thích tầng lớp thiếu hiểu biết. Hannah Arendt đã thấu hiểu điều này. Vào năm 1953, ngay giữa cao trào của chủ nghĩa McCarthy, bà đã đưa ra một nhận định đầy sắc sảo: "Nền cộng hòa này, nền dân chủ mà chúng ta đang sống... không và sẽ không bao giờ hoàn hảo, bởi lẽ chuẩn mực về sự hoàn hảo không áp dụng ở đây... Nếu cố gắng 'làm cho nước Mỹ đậm chất Mỹ hơn'... bạn sẽ chỉ hủy hoại nó mà thôi. Suy cho cùng, những phương thức mà bạn sử dụng chỉ là kiểu hành xử của cảnh sát – và chỉ cảnh sát mới dùng đến những cách thức đó mà thôi."
Gần sáu mươi năm trước, chính phủ đã sẵn sàng đặt tính mạng tôi vào vòng nguy hiểm vì lợi ích của họ. Không phải vì Bắc Việt đe dọa một ngư dân ở Maine hay một nông dân ở Indiana, mà bởi vì Tổng thống và các nghị sĩ Quốc hội không ngần ngại hy sinh mạng sống của những thanh thiếu niên để đạt được hòa bình trong danh dự. Câu hỏi lẽ ra tôi nên tự đặt ra lúc đó là: Liệu một người có thể là người yêu nước mà không nhất thiết phải yêu đất nước mình, hay chỉ đơn thuần cảm thấy vui mừng vì sự tồn tại của nó? Tôi muốn tin rằng câu trả lời là có. Một số người có thể coi thái độ này là không xứng đáng, thậm chí là vô ơn. Tuy nhiên, cũng như tình yêu thái quá trong một mối quan hệ có thể làm méo mó sự gắn kết, lòng tự hào dân tộc quá mức cũng có thể làm hạ thấp chính đất nước mà ta đang cố gắng bảo vệ.
Động lực đứng ra giúp đỡ đất nước cần phải tương xứng với tính chính nghĩa và sự cấp bách của lời kêu gọi. Liệu có hợp lý không khi đánh đổi cả tính mạng và thân thể chỉ vì một Tổng thống yêu cầu? Kể từ năm 1973, chúng ta đã dựa vào quân đội tình nguyện; điều này biến các cuộc can thiệp quân sự vào Afghanistan và Iraq thành vấn đề thuộc về lương tâm và sự lựa chọn cá nhân. Tất nhiên, lòng yêu nước là yếu tố thiết yếu đối với quốc phòng, nhưng nó không bao giờ được phép che mắt chúng ta trước những tổn thất về con người do chiến tranh gây ra. Nhà thơ người Anh Wilfred Owen, người đã qua đời chỉ một tuần trước khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, hiểu rất rõ sự tàn khốc của nó. Bài thơ "Dulce et Decorum Est" của ông mời gọi chúng ta hình dung về những hậu quả khủng khiếp, ám ảnh của chiến trận. Nếu có thể tận mắt thấy, tận tai nghe, ngửi và chạm vào những gì xảy ra với cơ thể con người, chúng ta sẽ "chẳng còn hào hứng kể lại / Cho những đứa trẻ đang khao khát vinh quang tuyệt vọng / Lời nói dối xưa cũ: Dulce et decorum est / Pro patria mori", một câu trích dẫn từ nhà thơ La Mã Horace với ý nghĩa: "Thật ngọt ngào và xứng đáng biết bao khi được hy sinh vì Tổ quốc."
Sự hy sinh ấy chẳng bao giờ ngọt ngào cả, dù đôi khi nó là điều xứng đáng; và nếu quyết định chiến đấu vì đất nước, bạn cần phải biết rõ mình đang chiến đấu vì điều gì. Những người yêu nước thích phô trương cờ xí có thể nghĩ khác, nhưng quá khứ mà chúng ta có thể nhìn lại không hề hoàn hảo hay tốt đẹp như người ta vẫn thường ca tụng. Nó chưa bao giờ là như vậy. Nhà sử học David Lowenthal nhắc nhở chúng ta rằng nước Mỹ đã thao túng các hồ sơ lưu trữ ngay từ thuở sơ khai. Khi Charles Thomson, thư ký lâu năm của Quốc hội Lục địa, được đề nghị công bố các ghi chép của mình (dài khoảng một nghìn trang), ông đã đồng ý lúc ban đầu, nhưng sau đó lại quyết định đốt bỏ chúng. “Tôi sẽ không làm vỡ mộng các thế hệ tương lai,” ông được cho là đã giải thích như vậy. “Tôi không thể nói ra sự thật mà không gây ra sự phật ý lớn. Hãy để thế giới ngưỡng mộ những người yêu nước và các anh hùng của chúng ta. Những tài năng và đức hạnh được gán cho họ... sẽ phục vụ cho tinh thần yêu nước.”
Vị sử gia thứ nhất này của chúng ta đã thực hiện nghĩa vụ yêu nước của ông bằng cách tiêu hủy bằng chứng và dựng lên một câu chuyện lịch sử để trường tồn, bất kể nó có khớp với thực tế hay không. Có thể vị Tổng thống đầu tiên của chúng ta không thực sự là người “số một trong chiến tranh, số một trong hòa bình và số một trong lòng người dân,” nhưng đối với Thomson, Washington cần phải được nhìn nhận như vậy; bởi lẽ, dù những người yêu nước thuở ban đầu có làm được hay không làm được điều gì khác, thì họ cũng đã soạn thảo một bản Hiến pháp đề cao sự phân chia quyền lực, quy trình pháp lý công bằng, tự do tôn giáo và tự do báo chí.
Không nhất thiết ai cũng phải nhìn nước Mỹ theo cùng một cách, nhưng việc lãng quên lịch sử sẽ khiến chúng ta dễ trở thành con mồi cho những kẻ trục lợi từ sự thiếu hiểu biết. Liệu Hiến pháp có hoàn hảo không? Hoàn toàn không. Cụm từ “Chúng ta, Người dân” (We the People) chỉ nhắm đến những người đặt bút ký tên, chứ không bao gồm phụ nữ, người nghèo, người ít học hay nô lệ. Vào năm 1788, vị thế chính trị gần như chỉ thuộc về những người đàn ông da trắng có tài sản, tiền bạc hoặc học vấn. Tuy nhiên, trong bối cảnh và những giới hạn của thời đại mình, các Nhà lập quốc đã làm được một điều phi thường. Họ đã trao cho chúng ta một khuôn khổ với mục đích “xây dựng một Liên bang hoàn thiện hơn, thiết lập Công lý, đảm bảo sự Bình yên trong nước, lo liệu việc phòng thủ chung, thúc đẩy Phúc lợi toàn dân và bảo đảm những Ân phước của Tự do cho chính chúng ta và các Thế hệ mai sau.” Hãy tạm quên đi chữ “lòng yêu nước.” Hãy đọc lại những lời của các nhà lập quốc vài lần và cảm thấy biết ơn vì họ đã đạt được những thành quả đáng kể như vậy. ♦
Published in the print edition of the June 1, 2026, issue, with the headline “My Country ’Tis of Thee.”
Arthur Krystal is the author of “A Word or Two Before I Go: Essays Then and Now” and “This Thing We Call Literature,” among other books. He began contributing to The New Yorker in 1998.
|
|