MẤY DẤU THƯ HƯƠNG 2

 
 
 

II.

Cạnh đấy cũng có một số kỷ niệm có nhớ được khá chi tiết hơn của thời học trò trên sáu mươi năm rồi mà nay vẫn còn vang vọng trong tâm tư tôi. Thí dụ:

Đại học Văn Khoa

* Phong thái độc đáo riêng:

Thượng tọa Thích Thiên Ân du học và tốt nghiệp tại một đại học (tôi không còn nhớ tên) bên Nhật Bản vào khoảng vài năm đầu thập niên 1960. Ông được mời dạy trong chứng chỉ Triết học Ấn Độ, và cái đề ông trình bày là Triết học Zen. Cách thế - nội dung lẫn thái độ giảng dạy của ông đã có những nét đặc biệt rất quyến rũ - hấp dẫn bọn sinh viên nam nữ trẻ chúng tôi hồi ấy. Chẳng hạn:
- Thượng Tọa Thiên Ân có nhân dáng khá đặc biệt: Ông khổ người cao lớn, nụ cười luôn nở trên cặp môi dầy, hợp với khuôn mặt và cái đầu to - trán gồ lớn không tóc.., và thêm nữa, hai bàn chân to đến độ trông thô, đặc biệt là cái xương bên cạnh ngón cái đâm ngang trồi ra ở cả hai bàn chân, nên có lẽ vì vậy mà chưa thấy bao giờ ông đi giầy, chỉ dép săng đan ( sandals) làm chuẩn. Tổng cộng lại, nhân dáng của ông vừa tự nhiên vừa chân chất của một nông dân mộc mạc gốc người Trung Việt.
Thời tôi học, sĩ số sinh viên ghi danh thường vài chục người nhưng đa số chỉ ghi tên mua tài liệu của giáo sư để học,còn tham dự trực tiếp trong lớp bao giờ cũng một chục 'mống' là cùng.
Mỗi tuần cho cả niên khóa, sinh viên chúng tôi được gặp ông 2 giờ đồng hồ. Ông yêu cầu sinh viên mở tập tài liệu in rô-nê-ô (tức là bản đánh máy vào giấy stencil rồi quay ra đóng lại thành từng tập, do một toán sinh viên nào đó nhận thực hiện rồi bán giá vốn lại cho sinh viên) của ông có tên là Triết Học Zen (triết học Phật giáo truyền thống của dân Nhật Bản). Đọc tới đâu, ông giảng tới đó.
Hết một giờ, nghỉ giải lao, ông thường theo sinh viên ra đứng ngoài lan can trước cửa phòng học. Ai hỏi gì , ông trả lời nấy. Thường có anh sinh viên đang hút thuốc lá, tiện thể mời, ông cũng rất tự nhiên hút. Rồi trong khi trò chuyện, ông thổ lộ rằng ở quê miền Trung ông vẫn hút thuốc rê vấn.
Sang tới giờ thứ nhì, bao giờ ông lên ngồi xếp bằng tròn thiền luôn trên bàn của giảng viên, cho đến hết giờ, tan học luôn!
Nghe nói đến năm 1967, thượng tọa được mời sang Hoa Kỳ dạy triết lý Phật giáo tại mấy đại học thuộc Nam Cali và chủ trì chùa Việt Nam tại Los Angeles. Giữa năm 1981, tôi sang định cư tại đây thì nghe nói nhà sư Thiên Ân mới mất trước đấy mấy tháng gì đó (?).Trong những bài viết về diễn trình lịch sử của người gốc Việt ở Mỹ có ghi: Thượng tọa Thích Thiên Ân là vị sư đưa được Phật giáo Việt Nam vào học trình đại học Mỹ và có được nhiều học trò tu tập truyền thừa ở Nam Cali.

* Từ Cửa Khổng đến Việt Nho.

Dáng người dong dỏng cao, khuôn mặt lúc nào cũng nghiêng lệch một bên, luôn vận một bộ áo chùng trắng, bước đi khoan thai, thẳng tắp. Linh mục Lương Kim Định có một nhân dáng đặc biệt thanh thoát. Vốn là một tu sĩ Thiên Chúa giáo, nhưng ông lại say mê giảng dạy về tư tưởng Khổng Tử vào thời chúng tôi theo học chứng chỉ triết học Trung Hoa.
Chuông reo, báo hiệu giờ học bắt đầu. Bước vào, đi thẳng lên đến bục giảng, và khi tấm bảng đen đã ở sau lưng, ông ngước mắt lên trần lớp và cứ thế nói thao thao bất tuyệt. Tôi còn nhớ được cái tít " Mũ Áo Hương Quan"(?) [ 5 ] ông đã thuyết giảng là một trong những chương thuộc tập tài liệu giảng dạy niên khóa ấy, mà sau này được ông cho in thành bộ sách có tên là Cửa Khổng. Nhưng đấy chỉ là những suy tư mở đầu để vài thập niên sau đó ông đã hệ thống hóa hoàn tất nội dung độc đáo là VIỆT NHO.
Bên cạnh cái vóc dáng và nội dung tư tưởng ấy, trí nhớ của tôi lại mặn mòi với hiện tượng rất đời thường trong ký ức về ông:
Có một lần, linh mục Kim Định đang say sưa giảng và sinh viên chúng tôi dưới này cũng mê mẩn lắng tai nghe. Ông đang diễn tả nội dung ý nghĩa của hai từ ngữ Âm và Dương, cụ thể hóa ở thân thể của Nam - Nữ. Ông nói đại khái rằng Âm - Dương luôn đi đôi với nhau thành một cặp khắng khít, như hai thân thể người nam với người nữ, phải áp lại đằng lưng mới có thể giúp họ nhìn bao quát trọn được cả hai chiều - bốn hướng…Thì một tiếng hô lớn vang lên từ hàng ghế sinh viên ở cuối phòng :
- Thưa Thầy. Thưa Thầy. Con có ý kiến!
Giật mình, ngưng giảng, linh mục Kim Định ngó xuống và mở lời:
- Anh có ý kiến gì?
- Dạ. Thầy nói chỉ có một vế như vậy, sao được! Đàn ông - đàn bà mà chỉ ráp đằng lưng lại không thôi thì làm sao có được Thầy, có được con ngồi đây!
Câu phát biểu ấy vừa dứt. Cả không gian lớp học lặng ngắt… Và chuông reo, hết giờ học!
Sau một thoáng hẫng đi, linh mục Kim Định mới lên tiếng, giọng rất tự nhiên:
- Ờ. Anh nói cũng phải. Nhưng thôi, hết giờ rồi. Đến tuần sau chúng ta thảo luận tiếp. Vậy nhá.
Nói rồi, linh mục tươi cười bước xuống bục giảng, phiêu phiêu đi thẳng ra hành lang. Cả lớp ồn lên, đổ dồn bu lại quanh người phát biểu, mới hay đó là anh Nguyễn Ngu Ý, vừa từ nhà thương điên Biên Hòa về, vẫn còn mặc chiếc áo của bệnh viện trên người!

* Bất ngờ nối kết được ký ức sâu - rộng.

Linh mục Gautier đã là một giáo sư có lẽ vào hàng lớn tuổi nhất thời bấy giờ. Theo thổ lộ mà tôi còn nhớ, có thời ngài đã từng là một linh mục trẻ được theo đoàn của linh mục Teilhard de Chardin [ 6 ] sang truyền đạo ở Bắc Kinh (Trung Hoa). Năm tôi theo học chứng chỉ Triết Tây, linh mục Gautier giới thiệu ba triết gia được người đời xưng tụng là ba nhà đại hiền triết cổ Hy Lạp, mở đầu cho dòng lịch sử triết học phương tây: Socrates - Platon ( Plato) và Aristote ( Aristotle) bằng hình thức giáo dục cổ điển đơn giản nhất là thầy trò trực tiếp vấn đáp đối thoại với nhau về những đề tài tâm lý - đạo đức - khoa học - chính trị. Chính câu nói độc đáo của Socrates " Hãy tự hiểu biết về mình"[ 7 ] hay cuốn sách The Replublic ( mở đầu cho ý niệm Cộng Hòa) và trường học có tên Academus ( mở đầu cho hệ thống đại học và Hàn Lâm Viện của xã hội loài người) của Platon ...Mấy sự kiện học hỏi đại loại như trên không những đã để lại trong tâm trí tôi những dấu ấn sâu sắc của thời đại hồng hoang của lịch sử loài người, mà còn nhắc nhớ tôi đến thời ấu thơ: Đêm nào mẹ tôi cũng ru chúng tôi ngủ bằng cách ngồi kể những chuyện thần thoại Hy Lạp hay truyện cổ tích Đông Tây, nhất là cổ tích Việt Nam ... Đó là duyên cớ xui khiến năm sau ấy tôi đã quyết định học để có thể lấy thêm hai chứng chỉ chuyên biệt cho đủ đậu bậc cử nhân giáo khoa Triết Đông phương... Đã đến tuổi về hưu, lúc ấy linh mục Gautier đang cư ngụ hẳn trong khu dưỡng lão của trung tâm Đắc Lộ sàigòn. Ông có thói quen tự phát hành tập tài liệu giảng dạy quay ronéo của chính ông. Sinh viên nào muốn thì tự động đến thẳng trung tâm Đắc Lộ gặp, trả chi phí do chính tay ông phát ra. Một lần tôi đến mua tài liệu, ông tiễn chân ra khỏi sảnh đường. Vừa đi, hai thầy trò vừa trao đổi vài thắc mắc, ra đến cổng thì gặp một linh mục già lụ khụ đang ngồi nghỉ trên băng ghế đá gần đó. Ông Gautier lên tiếng chào và thuận miệng bảo tôi rằng linh mục ấy vốn có thời gian phục vụ tại Nhà Thờ Lớn Hà Nội trước 1954. Nghe thế, tôi chợt động tâm, dừng lại... và bỗng dưng từ ký ức bật lên, tôi buộc miệng thốt ra thành lời : "Thưa Cha, con không thuộc kinh!". Chợt nghe được câu đó của tôi, linh mục già đang ngồi cạnh xe lăn ấy sững người, rồi đột nhiên la lớn lên: "Con đấy à!?" Tôi giật mình ghé lại gần, và nghe linh mục ấy lắp bắp tiếp: - Con là đứa hồi ấy thường xưng tội là không hề thuộc kinh đó sao?
- Đúng vậy, thưa cha!
Thế là ký ức của tôi ồ ạt trào ra: Số là cuối năm 1950, khi được biết đảng Cộng Sản Đông Dương đã vừa đổi tên thành đảng Lao Động Việt Nam, bố tôi đang đi kháng chiến liền bỏ về Hà Nội (hồi đó gọi là Về Thành hay Dinh Tê). Năm sau, 1951, mẹ tôi mới nhận được tin từ bố tôi và bà đã quyết đinh dẫn một lũ con nhỏ là chúng tôi từ Thanh Hóa về đoàn tụ với bố tôi ở Hà Nội. Tôi được vào học lớp ba trường tiểu học Đỗ Hữu Vị. Nhưng vì cái tội mảng chơi - phá nghịch nhiều quá, bố tôi bắt buộc tôi năm sau phải vào học lớp Nhì tại trường đạo Thiên Chúa Giáo có tên là Dũng Lạc, tọa lạc ngay cạnh Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Trường này áp dụng một thứ kỷ luật nghiêm ngặt. Chẳng hạn như học trò vào lớp, việc đầu tiên là phải quỳ lên băng ghế - khoanh tay đọc kinh. Chiều thứ sáu hàng tuần, lớp đóng kín các cửa - chiếu phim Thánh Tử Vì Đạo cho học trò xem. Sáng chủ nhật, học trò mọi lớp đều lần lượt xếp hàng vào nhà thờ xưng tội. Kỳ nào đi xưng tội, tôi cũng chộn rộn lo lắng thổ lộ là không thuộc kinh! Nhiều lần chỉ bộc lộ có một nội dung như thế, khiến vị linh mục ấy phải buột miệng lên tiếng hỏi:
- Thế ở nhà, con có vâng lời cha mẹ không?
- Dạ, có.
- Con có thuận hòa với các anh chị em không?
- Có..Nhưng cũng vài lúc...
- Ồ... Cũng phải đôi lần xung khắc chứ. Đúng không?
- Dạ.
- Vậy là được, con ạ. Vậy cũng là một cách thuộc kinh đấy. Con cứ yên chí nhá. Đừng có phiền muộn gì cả, nhá . Riết rồi trong tương lai con cũng sẽ thuộc kinh thôi mà. Yên tâm đi...

* Ký ức được khơi nguồn loan tỏa - rồi nối kết.

Trong môn luân lý - đạo đức của Triết Tây, tôi có học với giáo sư Peltier. Được biết ông tốt nghiệp tiến sĩ tại Sorbonne, Paris (Pháp quốc) với tiểu luận viết về Descartes. Và ông đã dạy chúng tôi hai triết gia Pháp là Descartes và Kant. Descartes thì đến giờ tôi chỉ nhớ có câu nổi tiếng của ông ta: "Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu." Còn Immanuel Kant, triết gia người Đức, tôi lại nhớ được một giai thoại có nội dung đại khái: Người ta bảo rằng hàng xóm nhà ông Kant ai nấy đều có thói quen không cần phải ngó vào đồng hồ, chỉ nhác thấy ông ta từ trong nhà ra đến cổng rồi giương cây dù che đầu lên và bắt đầu bước đi thì lúc ấy đúng 8 giờ sáng; còn chiều mà thấy ông ta về tới, cụp cây dù xuống và bước qua cánh cổng vào nhà, đồng hồ ắt chỉ đúng 7 giờ chiều!
Hai nhân vật tiêu biểu cho quan niệm duy lý một thời ứng dụng vào nền tảng tư tưởng lẫn đời sống của chính họ, như đại khái vừa dẫn chứng ở trên, không biết là tại sao đã tạo một dấu ấn quan trọng rất là bức bách trong suy tư của cá nhân tôi hồi ấy. Cho đến khi được nghe giáo sư Trần Văn Toàn giảng về Duy vật sử quan của Karl Marx, thì tôi dứt khoát chọn ý định sẽ phải tìm học hỏi về Triết học Đông phương vào niên khóa sau đấy là vậy.[ 8 ]
Nhưng hai kỷ niệm sâu sắc riêng với giáo sư Peltier, mà cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ được, như sau:

* Thuở thực hành tiến bộ và tự do.

Giữa năm 1964, phong trào đòi Tự Trị Đại Học bùng lên tại Sài Gòn [ 9 ], và Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn đã tích cực dẫn đầu nhiều cuộc biểu tình đòi xóa bỏ các vết tích thực dân Pháp còn sót lại. Trong đó có những đợt sinh viên tụ họp đòi đổi tên các trường ( chẳng hạn như trường Jean Jacques Rousseau, mấy năm sau đấy đã được mang tên là trường trung học Lê Quý Đôn)...và hạ bệ những tượng - những tên được đặt cho các công viên dính dáng tới văn hóa Pháp mà lâu nay đã trở thành biểu tượng cho chế độ thực dân Pháp đã chấm dứt vào năm 1954( chẳng hạn như bùng binh Công trường Duy Tân sau này có tên là Công trường Quốc Tế Quân Viện, nhưng cái tên mà dân chúng vẫn thường gọi là Hồ Con Rùa thì trước sau và đến tận bây giờ vẫn y nguyên. Công trường này nằm ngay bùng binh ngã tư trước trụ sở viện Đại Học Sài Gòn)

Hồ Con Rùa

Lúc ấy, sinh viên Đoàn Văn Khoa đã tham dự tuần hành chung với các phân khoa khác thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Đi vận động ở các phòng họp cho sinh viên nghỉ học để đi biểu tình, ban đại diện chúng tôi vào lớp lúc ấy đang có giáo sư Peltier giảng dạy môn Văn chương Pháp. Giáo sư đồng ý cho nghỉ, nhưng các nữ sinh viên từ trường cũ Marie Curie tốt nghiệp tú tài Pháp lên học lại là nhóm phản đối dữ dội nhất. Các cô nhao nhao đòi giáo sư ở lại tiếp tục dạy, nhưng giáo sư Peltier phân trần rằng ban đại diện sinh viên trường được sự đồng ý của vị khoa trưởng lúc ấy là giáo sư Nguyễn Đăng Thục thì theo đúng nguyên tắc, ông phải tuân thủ. Nói xong, ông đứng dậy thu xếp tài liệu và bước ra khỏi phòng. Nhóm nữ sinh viên gốc Marie Curie vẫn vừa trì níu vừa phát ngôn toàn bằng tiếng Pháp. Một đại diện sinh viên nóng nẩy lớn tiếng dằn mặt:
- Là người gốc Việt, yêu cầu các cô xử dụng Việt ngữ.
Một cô sấn tới níu giáo sư Peltier, miệng vẫn xổ tiếng Pháp. Lập tức cô ta bị một anh sinh viên nổi sùng giơ tay tát thẳng vào mặt! Sự thể ấy xảy ra hoàn toàn bất ngờ. Cô ta sững người rồi bật tiếng khóc. Giáo sư Peltier vừa nắm tay an ủi vừa kéo cô ta ra khỏi phòng học…

* Cảm thông nhờ từng trải

Hè năm sau, 1965, vừa vượt qua được kỳ thi viết - đang đợi vào vấn đáp, tôi đến trụ sở của Chương Trình Công Tác Hè ( gọi tắt là Summer Program 65) của Tổng Hội Sinh Viên. Lúc ấy anh Đỗ Ngọc Yến được bầu giữ chức tổng thư ký Chương Trình, còn tôi là phó trưởng đoàn văn nghệ Đường Sáng đặc trách kế hoạch, mà Vũ Dzũng đang học bên Kiến Trúc làm trưởng đoàn. Sau khi ngỏ lời mừng cho tôi, Đỗ Ngọc Yến lại bảo rằng đoàn văn nghệ cả sáu bẩy chục đoàn viên trên đường lưu diễn những tỉnh miền Trung, đang từ Đà Lạt xuống Phan Rang thì cạn quỹ nên phải trụ lại một đình làng đợi tôi đem tiền gấp ra cấp cứu. Thế là tôi chỉ xách tay cái túi Air Việt Nam đựng gần nửa triệu tiền mặt, đi nhờ phi cơ quân sự ngay trong ngày. Ra đến Nha Trang, tôi phải tức tốc thuê rạp và nhà trọ sẵn để đoàn ra có chỗ trú ngụ và trình diễn mấy buổi văn nghệ ở thành phố ấy, theo dự trù. Sáng sớm hôm sau, tôi lại lật đật đón xe đò vào Phan Rang. Tìm ra nơi đoàn văn nghệ đang tạm trú, việc đầu tiên là tôi phải kêu 2 xe mì - hủ tíu bán dạo tới để cứu đói đoàn viên; rồi chạy ra bến xe thuê luôn hai chiếc xe đò lớn để sáng sớm mai cùng với cả đoàn về lại Nha Trang. Công tác xong xuôi, tôi mới tức tốc kiếm phi cơ quân sự đi nhờ để có thể gấp trở về Sài Gòn.
Vắng có mấy ngày trời, tôi đã không kịp vào vấn đáp đủ những môn yêu cầu; trong số ấy có giáo sư Peltier: Ông đã về dạy ở Paris, ba tháng sau mới sang lại Sài Gòn.
Tháng tám năm đó, hai thầy trò gặp nhau để hoàn tất cuộc thi vấn đáp, có nội dung hỏi đáp về hệ thống tư tưởng duy lý với ba tác giả là René Descartes (1596 - 1650) - Blaise Pascal (1623 - 1662) và Immanuel Kant (1724 - 1804). Xuyên qua những câu trả lời của tôi, giáo sư Peltier tỏ vẻ hài lòng. Trước khi đặt bút cho điểm, một cách cẩn trọng ông hỏi tôi rằng có gì thắc mắc nữa không. Tôi rụt rè thổ lộ, xem ông có còn nhớ vụ tôi đã hiện diện trong đám sinh viên trường trực tiếp vào lớp học yêu cầu ông ấy bỏ dạy giữa chừng để sinh viên ra dự biểu tình hồi năm ngoái hay không. Cúi đầu im lặng giây lát, ông nhẹ nhàng bảo rằng bọn sinh viên chúng tôi đã hành động đúng theo nhu cầu. Với nét mặt biểu lộ niềm xúc động, ông tâm sự rằng vốn là người gốc Đức đã cùng gia đình di cư sang sống và nhập quốc tịch Pháp trong giai đoạn Thế Chiến Thứ Hai, ông thấu hiểu một cách sâu xa hành động và việc thể hiện thái độ lẫn lập trường của bọn sinh viên chúng tôi trong trường hợp ấy...
Còn riêng cá nhân tôi ở giai đoạn học vấn bậc cử nhân, đấy là niên khóa duy nhất tôi phải đậu kỳ hai./.

Phạm Quốc Bảo

http://www.trietvan.com/thanhuu/thanhuu_van.htm

_________________________________________________________
Chú Giải:
[5 ] Đó là chương có tên "Lễ Gia Quan", được bổ túc bởi nhà văn Lê Lạc Giao, tốt nghiệp ban Triết Văn Khoa sàigòn đầu thập niên 1970, hiện là thành viên của website: www.Trietvan.com.
[6 ] Pierre Teilhard de Chardin( 1 May 1881 – 10 April 1955) trích Wikipedia.
[7 ] "Connais - toi toi-même": " Hãy tự hiểu biết về mình"-
[ 8 ] Triết Tây: Duy Tâm (thực ra là Duy Trí - Duy Lý với Descartes và Kant) và Duy Vật với K.Marx.
Trong đấy đáng kể nhất phải kể đến Blaise Pascal (1623 - 1662) nói: “Con người là một cây sậy, thứ yếu ớt nhất trong thiên nhiên, nhưng là cây sậy có suy tư”( L'homme est un roseau, le plus faible de la nature, mais c'est un roseau pensant; Man is a thinking reed)
[ 9 ] Phong Trào Tự Trị Đại Học phát khởi ngay sau biến cố 1 tháng 11 năm 1963, một trong những nhân vật dẫn đầu là giáo sư Nguyễn Đăng Thục lúc đó đang là khoa trưởng Văn Khoa Sài Gòn. Đến năm 1965, khoa trưởng đầu tiên được các giáo sư trong Hội Đồng Khoa bầu lên là giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch. Chứ trước đó, khoa trưởng các phân khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn đều do Bộ Quốc gia Giáo dục chọn và viện trưởng chuẩn thuận mà thôi.